SG1


Menu



Đài Tưởng Niệm

Thuyền Nhân

Việt Nam

Tiếp Theo...

* CẦU NGUYỆN VÀ TƯỞNG NIỆM NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM 2016 TẠI NAM CALI


* 40 NĂM QUỐC HẬN LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN, BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* 30 THÁNG TƯ, TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* BI SỬ THUYỀN NHÂN (Nguyễn Quốc Cường)


* BIỂN ĐÔNG LỤC BÌNH TRÔI


* CÁI GIÁ CỦA TỰ DO


* CÁNH BÈO BIỂN CẢ (Văn Qui)


* CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ CON TÀU MANG SỐ MT065


* CẦU SIÊU BẠT ĐỘ TẠI ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM WESTMINSTER


* CHUYỆN KỂ HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG (Nhiều Tác Giả)


* CHỨNG TÍCH ĐỂ ĐỜI: ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* CHUYẾN VƯỢT BIÊN ĐẪM MÁU (Mai Phúc)


* CHUYẾN VƯỢT BIỂN HÃI HÙNG


* CON ĐƯỜNG TÌM TỰ DO (Trần Văn Khanh)


* CÒN NHỚ HAY QUÊN (Nguyễn Tam Giang)


* DẠ TIỆC VĂN NGHỆ "LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG" THÀNH CÔNG NGOÀI DỰ KIẾN CỦA BAN TỔ CHỨC


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Việt Hải)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TẠI QUẬN CAM (Vi Anh)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM: BIỂU TƯỢNG THIÊNG LIÊNG CỦA NIỀM KHÁT VỌNG TỰ DO VÀ NHÂN QUYỀN


* ĐÊM DÀI VÔ TẬN (Lê Thị Bạch Loan)


* ĐI VỀ ĐÂU (Hoàng Thị Kim Chi)


* GALANG: BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM BỊ PHÁ BỎ


* GALANG MỘT THỜI - MỘT ĐỜI (Nguyễn Mạnh Trinh)


* GIÁNG NGỌC PHỎNG VẤN NHÀ THƠ THÁI TÚ HẠP VÀ NỮ SĨ ÁI CẦM VỀ LỄ KHÁNH THÀNH ĐTNTNVN


* GIỌT NƯỚC MẮT CHO NGƯỜI TÌM TỰ DO (Lê Đinh Hùng)


* HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT


*"HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG: TỰ DO, MỘT NHU CẦU THIẾT YẾU, ĐÁNG ĐỂ TA ĐI TÌM"


*HÀNH TRÌNH GIAN NAN TÌM TỰ DO  


* HÀNH TRÌNH TÌM CON NƠI BIỂN ĐÔNG


* HÌNH ẢNH MỚI NHẤT CHUẨN BỊ KHÁNH THÀNH VÀO THÁNG 04-2009


* HÒN ĐẢO BỊ LÃNG QUÊN (Meng Yew Choong)


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ VINH DANH ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ WESTMINSTER THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT “NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM”


* KHÁNH THÀNH ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI NAM CALI


* KHẮC TÊN TRÊN BIA TƯỞNG NIỆM (Việt Hải)


* LÀN SÓNG THUYỀN NHÂN MỚI


* LỄ ĐỘNG THỔ KHỞI CÔNG XÂY DỰNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* LỄ KHÁNH THÀNH TRỌNG THỂ ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI QUẬN CAM


* LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TỔ CHỨC TRANG NGHIÊM TẠI NGHĨA TRANG WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* LÒNG NHÂN ÁI (Tâm Hồng)


* LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG (Thơ Thái Tú Hạp)


* MEMORIAL TO BOAT PEOPLE WHO DIED TO BE DEDICATED SATURDAY


* MỘT CÁI GIÁ CỦA TỰ DO (Trần Văn Hương)


* MƠ ƯỚC "MỘT NGÀY TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN" ĐÃ TRỞ THÀNH SỰ THẬT


* NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM THỨ 5


* "NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM" TỔ CHỨC TRỌNG THỂ TẠI WESTMINSTER


* NGƯỜI PHỤ NỮ SỐNG SÓT SAU CHUYẾN VƯỢT BIỂN KINH HOÀNG


* NHỮNG CHUYỆN HÃI HÙNG CỦA THUYỀN NHÂN (Biệt Hải)


* NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT ĐỀU CÓ THẬT (Ngô Dân Dụng)


* NHỮNG THÁNG NGÀY YÊU DẤU NƠI HOANG ĐẢO (Tuấn Huy)


* NỖI BẤT HẠNH ĐỜI TÔI (Thùy Yên) 


* NỖI KHỔ CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Thy Vũ Thảo Uyên)


* NƯỚC MẮT CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Nguyễn Mỹ Linh)


* SAIGON TIMES PHỎNG VẤN MỤC SƯ HÀ JIMMY CILLPAM 4 NĂM CÓ MẶT TRÊN TÀU AKUNA CỨU HƠN 5000 NGƯỜI VIỆT NAM VƯỢT BIỂN TÌM TỰ DO TRÊN BIỂN ĐÔNG


* TÀU SẮT BẾN TRE (Tú Minh)


* THẢM KỊCH BIỂN ĐÔNG (Vũ Duy Thái)


* THẢM SÁT TRÊN ĐẢO TRƯỜNG SA


* THỊ XÃ WESTMINSTER VINH DANH TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN


* THÔNG BÁO CỦA ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VN


* THƠ LÀM KHI ĐỌC TIN THUYỀN NHÂN (Viên Linh)


* THUYỀN NHÂN: ẤN TÍCH LỊCH SỬ


* THUYỀN NHÂN VÀ BIỂN ĐỘNG


* THUYỀN NHÂN VÀ MỘT VÀI HÌNH ẢNH CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN


* THUYỀN NHÂN VIỆT NAM VƯỢT BIÊN, TỬ NẠN, ĐẾN BỜ TỰ DO ĐÃ GIÚP NHÂN LOẠI NHÌN RÕ ĐƯỢC CHÂN TƯỚNG CỦA CỘNG SẢN (Lý Đại Nguyên)


* TRÔI GIẠT VỀ ĐÂU (Nguyễn Hoàng Hôn)


* TRỞ VỀ ĐẢO XƯA... (Nguyễn Công Chính)


* TỪ TẤM BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN Ở GALANG NHÌN RA CON ĐƯỜNG HÒA GIẢI


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN VIỆT NAM ĐÃ CHÍNH THỨC ĐƯA VÀO WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN ĐÃ ĐƯỢC ĐẶT VÀO VỊ TRÍ AN VỊ TRONG KHUÔN VIÊN WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30-4-2012

* VĂN TẾ THUYỀN BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* VƯỢT BIỂN (Thanh Thanh)


* VƯỢT BIỂN MỘT MÌNH (Nguyễn Trần Diệu Hương)


* XIN VỀ ĐÂY CHỨNG GIÁM, AN GIẤC NGÀN THU


* XÓA DẤU VẾT TỘI ÁC (Phạm Phú Minh)


 Saigon Times USA

 

 

Ý NIỆM VỀ MẸ

NHÂN MÙA BÁO HIẾU VU LAN

 

Tiến Sĩ LÂM NHƯ TẠNG

 

Làm người ai cũng có đấng sinh thành là Cha Mẹ. Đặc biệt nhân mùa Vu Lan báo hiếu này, tôi xin được nói về Mẹ như một bó hoa tưởng  niệm Mẹ tôi đã qua đời tại  Việt Nam ngày 1-3-1996. Khi đề cập đến Mẹ trong ngôn từ tiếng Việt, ta thử so sánh với nhiều ngôn ngữ khác nhau gọi Mẹ như thế nào và tìm xem  có từ nào mà toàn thể các  dân tộc trên thế giới nầy có  tiếng gọi chung về Mẹ hay không?

Mẹ trong văn hóa và tập tục của Đông Phương và Tây Phương như thế nào?

Mẹ trong kinh điển Phật Giáo, và phương  pháp báo hiếu ra sao?

 

I. DANH TỪ MẸ

 

Tiếng Việt gọi Mẹ là người đàn bà đã sinh ra ta. Trong đó bao gồm ý nghĩa mười tháng cưu mang chịu không  biết bao nhiêu điều cực nhọc cho  đến ngày khai hoa nở nhụy và nuôi  nấng dạy dỗ cho đến khi khôn lớn  nên người. Những thâm ân đó  chỉ khi nào chúng ta nuôi con mới biết  được công ơn của Cha Mẹ. Như  Đức Khổng Tử đã nói: “dưỡng  tử phương tri phụ mẫu ân” (Khi nuôi  con mới biết được công ơn  Cha Mẹ).

Danh từ Mẹ ấy, tiếng Tây Ban Nha gọi là Madre, tiếng Ý cũng gọi là Madre.  Tiếng La Tinh là Mater. Tiếng Anh là Mother. Tiếng  Đức là Mutter. Tiếng Pháp là La Mère.  Tiếng Hy Lạp là Mitera. Tiếng Nga là Matb  (Moma). Tiếng Iran là Modar, Tiếng Trung Hoa là  Mouchan (Ma, Mu). Tiếng Ấn Độ là Mata, Tiếng  Nhật là Okaasan. Tiếng Ả Rập là Waldetak.

Kể cả tiếng Việt, tất cả 14 ngôn  ngữ vừa nêu trên hầu như là  đại đa số các dân tộc trên thế  giới ngày nay đang dùng những ngôn  ngữ đó. Trừ tiếng Nhật và  tiếng Ả Rập có âm vận riêng, còn  mười hai ngôn ngữ còn lại âm  vận na ná giống nhau và đều bắt  đầu bằng mẫu tự “M”.

Có đều tôi muốn nhấn mạnh ở đây là tất cả các dân tộc trên thế giới đều có ngôn ngữ  riêng, thế nhưng khi nói danh từ Mama  tất cả đều biết đó là Mẹ.  Làm sao tôi có thể cả quyết được điều đó. Bởi vì chính tôi đã tiếp xúc trực tiếp với mấy chục người nói những ngôn  ngữ hoàn toàn khác nhau nhưng khi hỏi  danh từ Mẹ trong ngôn ngữ của họ  tất cả đều gọi là Mama. Tôi chưa thỏa mãn. Vì tôi biết từ đó không phải là ngôn ngữ chính gốc  của họ nên lần lượt họ mới  cho biết từ chính gốc trong ngôn ngữ  riêng biệt của mỗi dân tộc. Thế nhưng tại sao lại có một từ cộng thông như thế. Theo tôi nghĩ, đó là tiếng nói bập bẹ đầu tiên của đưa bé vừa mới tập nói mà  ra, rồi thành ra tiếng nói phổ thông  bất thành văn trong dân gian của mỗi  dân tộc mà thành. Trừ danh từ  Mama là Mẹ vừa nói, ngoài ra không  có một từ nào có tính phổ thông  như thế cả. Như vậy đủ chứng  tỏ Mẹ là thiêng liêng cao cả không  có người nào hoặc vật gì khác  có thể sánh bằng Mẹ. Khi nghĩ về  công sinh thành dưỡng dục đứa  con mà nói, ngay cả Cha cũng không bằng  Mẹ. Vì chỉ có thân thể người  Mẹ mới có thể thai nghén và sinh  con được mà thôi.

 

II. MẸ TRONG TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA VIỆT NAM

 

Mẹ là mười tháng cưu mang, ba năm  bồng bế, sau đó là giáo dục cho  con nên người hữu ích trong xã  hội như Chinh Phụ Ngâm đã nói:

Ngọt bùi thiếp đã hiếu nam

Dạy con đèn sách thiếp làm phụ thân

 

Hai câu thơ trên còn nói lên bổn phận, công lao của người Mẹ đối  với con với chồng trong gia đình Việt  Nam.

Cha Mẹ là chỗ dựa về tinh thần và là cây đa cổ thụ để con nương  nhờ về vật chất:

 

Gió đưa cây cửu lý hương

Con xa cha mẹ thất thường bữa ăn

(không rõ tác giả)

 

Hoặc là:

Có Cha có Mẹ thì hơn

Không Cha không Mẹ như đờn đứt dây

(Ca dao)

 

Hay là những câu thơ sau đây đã nói lên được một phần công ơn của người Mẹ. Trong thờ kỳ đầu của sự thai nghén, người  Mẹ phải chịu:

...

Sự buồn nôn của thời kỳ  đầu thai nghén

Mặt mày xanh choáng váng lúc về  chiều

Mắt tối sầm dù nắng đẹp trưa  hè

Những thú vui không màng mơ tưởng đến

(thơ Như Tạng)

 

Khi bào thai trong thời kỳ phát triển  trong cơ thể người Mẹ:

 

...

Mỗi ngày con mỗi lớn

Da căng theo ngày tháng bước nặng  dần

Cử kiêng từng hành động lẫn  thức ăn

Đêm trằn trọc dáng nằm ngồi  khó nhọc

(thơ Như Tạng)

 

Nỗi lo lắng và đau đớn của người  Mẹ trong lúc sinh nở:

 

...

Nổi lo của người gần sinh nở

Những cơn đau quằn quại vỡ  người

Kịp đến khi nghe con khóc chào đời

Hồn nhẹ nhỏm cơn đau dường  đứng lại

(thơ Như Tạng)

 

Công lao của người Mẹ nuôi con và  lo giáo dục, lo tương lai cho con mình:

 

Và con sẽ lớn lên Người dạy  bảo

Nuôi nấng, nâng niu, ấp ủ, dỗ dành

Vì tương lai, Mẹ lo lắng tảo tần  ...

(thơ Như Tạng)

 

Biết bao nhiêu là thơ, nhạc, văn chương  nói về Mẹ. Nào là ví lòng Mẹ  như biển rộng bao la như trời cao không  cùng tột... Bài nào nói về Mẹ cũng  hay, cũng réo rắt, cảm động dễ đi  vào lòng người. Bởi vì nói  về Mẹ là nói về tình thương,  mà tình thương là bắt đầu từ  cõi lòng chân thật và sâu lắng  nhất của tâm hồn mình. Do đó nói  về Mẹ là nói về những gì mình  có kinh nghiệm sống thực, những xúc  động chân thành, những suối nguồn  êm dịu trong lành mát mẻ nhất. Vì  thế cho nên những bài thơ, nhạc...  viết về Mẹ đều hay và cảm động.

Vì ân trọng đối với Mẹ như  thế nên ngày xưa trong xã hội Việt  Nam không được làm đám cưới  hoặc người vợ không được  có thai trong lúc thọ tang Cha Mẹ. Trong sách  “Hải Dương Phong Vật Chí” của Trần  Đạm Trai có ghi: “Cổ thời trọng  đạo hiếu đến nỗi luật pháp cấm  vợ có thai trong khi tang chế, đến đời  Lê Thánh Tông mới bỏ lệ ấy,  nhân vì có người tỉnh Hải Dương  huyện Đường An xã Thời Cử  tên là Nguyễn Kim An, thuở nhỏ hàn  vi, thời Hồng Đức (1470-1497) làm  lính chầu trong cung. Vua thấy có tài nên  cho về đi học. 22 tuổi đỗ Hương  Cống, rồi thi Hội thi Đình đỗ Bảng  Nhãn (học vị của người thi đỗ  thứ hai, sau Trạng Nguyên, trong khoa thi Đình).  Được bổ làm quan ít lâu sau, về  cư tang, giữ trọn ba năm đạo hiếu  thì mất, không có con trai, vua cảm thương,  từ đó bỏ lệ kia”.

“Các triều vua thường khuyến miễn  thuần phong mỹ tục vẫn nhắc nhở  đạo hiếu, như lệnh vua Lê Huyền Tông  ra năm Cảnh Trị thứ ba (1665) cho tinh biểu  những người có hiếu hạnh (cho  biển vàng biểu dương hiếui hạnh,  trong biển ghi tên tuổi quán chỉ người  được khen thưởng và nói rõ  duyên do có hiếu hạnh như thế nào)  (Lê Triều Chiếu Lịnh Thiện Chính). Lệnh  vua Hàm Nghi năm đầu (1884) ban thưởng  biển son khắc bốn chữ vàng “Hiếu  Hạnh Khả Phong” cho những người có  tiếng hiếu hạnh (Đại Nam Điển Lệ)".  (theo sách Đất Lề Quê Thói, của  Nhất Thanh, 1992).

Những gương hiếu thảo ngày xưa  nhiều khi đã phải hy sinh thân mình để  cứu mạng Cha Mẹ. Trong sách “Việt Nam  Văn Học Toàn Thư” của Hoàng Trọng  Miên có ghi trường hợp: “Lãnh  Tạo, người làng Tuần Lễ tỉnh  Nghệ An, chống đối triều Minh Mạng. Lê  Văn Duyệt được cử làm Tổng  Trấn Nghệ An để dẹp Lãnh Tạo, bị  Tạo lừa, ngang nhiên đem quân lính  tới dinh trấn giả làm đi thanh tra; Lê  văn Duyệt dụ hàng, tâu vua cho làm quan,  Tạo không chịu, chỉ ưng nhận vàng  bạc rồi đi. Sau đó Lê Văn Duyệt  sai lính bắt giữ mẹ và vợ của  Tạo. Vì thương Mẹ mà Tạo phải  ra hàng...”

Năm 1962, Thầy Nhất Hạnh cho ra đời  tác phẩm Bông Hồng Cài Áo rất nổi  tiếng và rất thành công trong mục đích  cổ võ cho Ngày Mẹ nhằm ngày Vu Lan rằm  tháng bảy Âm Lịch. Hiện nay ngày rằm  tháng bảy đã nghiễm nhiên trở  thành Ngày Mẹ của người Việt  Nam. Trong ngày ấy hoa hồng được cài  cho người có diễm phúc còn Mẹ  và hoa trắng cho những người mà  Mẹ đã qua đời.

Theo truyền thống Đông Phương thì Hiếu  đứng đầu trăm hạnh lành như  trong Nhị Thập Tứ Hiếu Diễn Âm của  Lý Văn Phức có câu:

 

Chữ hiếu hạnh niệm tròn một  tiết

Thời suy ra trăm nết đều nên

 

Người bất hiếu nghĩa là đối  xử không tốt với đấng sinh thành  của mình thì khi ra đời không còn  ai tin tưởng được người  ấy nữa. Do đó mà trăm sự  trăm việc sẽ đổ vỡ, không thể  thành công trên đường đời  dù là việc nhỏ hay việc lớn.

 

III. MẸ TRONG KINH ĐIỂN PHẬT GIÁO

 

A. Tấm Gương Hiếu Hạnh của Đức  Phật

 

Trong bài kinh trong Ba Mẹ hồi các đời  trước (trong sách “Một Trăm Bài Kinh  Phật” của Đoàn Trung Còn, không ghi năm  xuất bản) có ghi tấm gương hiếu hạnh  của Đức Phật như sau:

Lúc ấy Phật ngự với Giáo Hội  chư đại tỳ kheo tại xứ Ca-căn-ga-la  (Kacangala). Trong cánh rừng ở gần đó, có bà già tên là Ca-căn-ga-lác  (Kâcangalâ), bà xách một cái bình  đến giếng mà múc nước.

Lúc ấy Đức Thế Tôn gọi A-Nan  và bảo rằng: “Nầy A-Nan hãy đi nói  với bà ấy rằng: Đức Thế  Tôn khát nước, bà cho Ngài uống  với”.

A-Nan nói với bà mấy lời ấy,  bà đáp rằng:

“Để tôi đem đến cho Ngài”.

Bà đổ nước vào đầy bình  mang đến trước mặt Phật. Bà thấy  Phật rất trang nghiêm với 32 tướng  chánh, 80 tướng phụ, một vòng hào  quang sáng ngời. Bà vừa thấy Phật,  cái tình Mẹ thương con nãy sinh nơi  lòng bà, bà vội đưa tay lên ôm  hôn Đức Phật vứa nói rằng:  “Con tôi! Con tôi!” Mấy vị tỳ kheo muốn  cản bà lại nhưng Đức Phật liền  phán rằng: “Nầy chư tỳ kheo! Chớ  cản bà ấy!”

Tại sao vậy?

Bởi vì trong năm trăm đời liên  tiếp bà đã làm Mẹ ta:

 

Vì tình mẫu tử sâu xa

Nên bà chạy đến ôm ta hôn nhầu

Ai mà ngăn cản đón đầu

Thì bà tức giận máu hầu tuông  ra

Ta đây nhớ Mẹ buổi qua

Cám ơn nghĩa nặng ví ta bao đời

Từ bi, thương xót lấy người

Nên ta chịu để ôm vùi mà hôn

 

Liền sau đó Đức Thế Tôn thuyết  pháp Tứ Diệu Đế để độ  bà. Bà liền chứng quả Tu-Đà-Hườn  và đọc bài kệ như sau:

 

Làm con mà biết báo đền

Tác thành việc khó, đáp tình  mẫu thân

Thế Tôn giữ trọn hiếu phần

Giúp ta đổi tánh thoát trần dứt  mê

Độ ta ra khỏi bến mê

Đường Tiên, đưởng Phật  đưa về đúng nơi

Con ta chuyển sức ra tài

Đặng làm việc tốt, đáng đời  kính khen

 

Sau đó bà xin phép xuất gia và nhập  vào hàng tỳ kheo ni. Bà tinh tấn tu hành  và chứng quả A-La-Hán.

 

B. Kinh Tâm Địa Quán

 

Kinh Tâm Địa Quán, phẩm báo ân, Đức  Phật nhân tán thán 500 vị trưởng  giả thành Vương Xá, nước Ma Kiệt  Đa đến cúng dường Phật và  đại chúng. Đức Phật giảng cho  họ nghe về công ơn sinh thành của Mẹ  như sau:

"... Mẹ hiền thương con, thật không  biết lấy vật gì để so sánh cho cân  xứng vậy. Từ khi vào thai, trải qua  10 tháng, những lúc Mẹ đi, đứng,  ngồi, nằm chịu trăm điều khổ não  mà miệng mẹ không thể nói ra. Muốn  những đồ uống ăn hay áo mặc,  dù có được cũng chẳng mừng,  vì lòng lo lắng không hề dứt, chỉ  lo nghĩ cho đứa con sắp sanh sao cho hoàn  hảo là hơn thôi. Nếu khi đẻ khó  thì như trăm ngàn mũi dao đồng thời  đâm khắp toàn thân. Nếu khi sanh đẻ  an lành, bà mẹ cùng các thân thuộc  cùng chung vui sướng y như kẻ nghèo  được châu báu. Sự đau khổ  của Mẹ trong mười tháng do một tiếng  khóc đầu tiên của con khi mới lọt  lòng, mà nổi khổ ấy Mẹ liền quên  mất và vui sướng như nghe âm nhạc.  Con lấy nơi bụng ngực của Mẹ làm  chỗ ngủ, lấy hai cổ vế làm chỗ  dạo chơi, và do nước giếng cam lồ  nơi ngực Mẹ chảy ra mà nuôi lớn.  Ôi ơn đức của Mẹ, núi cao biển  sâu cũng chẳng sánh kịp. Nếu đứa  con nào biết tùy thuận nghe theo những  lời dạy bảo của từ mẫu mà  không trái nghịch thì được chư  thiên hộ niệm, phước đức  vô cùng...”

(Kinh Tâm Địa Quán, H.T. Thích Tâm Châu  dịch) (tham khảo sách Cho Trọn Hiếu Ân  của T.T. Thích Bảo Lạc, 1991).

 

C. Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân

 

Nhân khi Đức Phật dẫn đại chúng  đi hành đạo hướng về Phương  Nam, giữa đường Đức Phật  đến lạy trước một đống sương  khô đã lâu đời chất to như  quả núi. Đại chúng thấy vậy không  rõ nguyên do, A-Nan liền bạch Phật xin dạy  cho biết tại sao Đức Thế Tôn lại  làm như thế. Phật chỉ rõ rằng đống  xương đã chồng chất đó rất  lâu đời về trước nên biết  đâu trong đó có xương của Cha,  Mẹ, vợ, con, anh, em ta nhiều đời  trước. Vì lòng hiếu kính nên ta  lạy đống xương như vậy. Đức  Phật đã dạy bảo đại chúng rất  nhiều về công ơn sinh thành của Cha Mẹ,  đặc biệt mười điều chúng  ta nên ghi nhớ như sau:

Thế Tôn lại bảo A-Nan:

 

Ơn Cha nghĩa Mẹ mười phần phải  tin

Điều thứ nhất giữ gìn thao  giáo

Mười tháng trường châu đáo  mọi bề

Thứ hai sanh đẻ gớm ghê

Chịu đau chịu khổ mỏi mê trăm  phần

Điều thứ ba thâm ân nuôi dưỡng

Cực đến đâu bền vững  chẳng lay

Thứ tư ăn đắng nuốt cay

Để dành bùi ngọt đủ đầy  cho con

Điều thứ năm lại còn khi ngủ

Ưót Mẹ năm khô ráo phần con

Thứ sáu sú nước nhai cơm

Miễn con no ấm chẳng nhờm gớm  ghê

Điều thứ bảy không chê ô  uế

Giặt đồ dơ của trẻ không phiền

Thứ tám chẳng nở chia riêng

Nếu con đi vắng cha phiền mẹ lo

Điều thứ chín miễn con sung sướng

Dầu phải mang nghiệp chướng cũng  cam

Tính sao có lợi thì làm

Chẳng màng tội lỗi bị giam bị cầm

Điều thứ mười chẳng ham trau  chuốc

Dành cho con các cuộc thanh nhàn

Thương con như ngọc như vàng...

(“Kinh Đại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân”  - không rõ dịch giả)

 

Ngoài mười điều ân trọng ghi  trên toàn bài kinh Đức Phật còn  chỉ rất ràng rẽ từng ly từng  tý một về công sinh thành nuôi nấng  và dạy dỗ cho con nên người. Đọc  toàn bài kinh được chuyển ngữ  thành thơ song thất lục bát khiến tôi  bùi ngùi xúc động đến rơi nước  mắt nhiều lần khi nghĩ đến người  Mẹ qua đời. Tôi thấy mình bất  hạnh vì đã xa Cha Mẹ rất lâu năm,  và bây giờ nhìn đóa hoa trắng  trên áo tôi mới thấm dần thấm  dần và hiểu nghĩa rất sâu sắc của  tâm trạng kẻ mồ côi.

Đây! bầu trời đen tối đã  phủ kín tâm hồn tôi! Tôi trở  thành kẻ mồ côi Mẹ, đau đớn  quá! Cho dù tôi đã bao nhiêu tuổi  trên đầu!...

 

IV. PHƯƠNG PHÁP BÁO HIẾU

Tôi nghĩ ai có khát nước đến  cùng cực khi gặp nước mới  thấy nước uống quý giá vô vàn.  Vấn đề báo hiếu cũng vậy. Ai đã  mất Cha Mẹ mới thấy phương pháp  báo hiếu của Đức Phật dạy là  quý báu.

Lấy kinh nghiệm bản thân mà nói, khi  Mẹ tôi còn tại thế tôi vẫn thường  xem kinh sách, vẫn tin lời Đức Phật  dạy, vẫn cầu nguyện cho bảy đời  Cha Mẹ đã qua trong quá khứ siêu  sanh về miền cực lạc của Đức  Phật A Di Đà, như trong kinh Vu Lan đã  dạy. Vẫn luôn luôn học về gương  hiếu hạnh của Đức Đại Hiếu  Mục Kiền Liên. Vẫn biết ngày Mother's  Day của các nước Tây Phương. Và  truyền thống báo hiếu của Đông Phương.  Thế nhưng việc làm đã qua của tôi  là do lý trí chủ đạo. Còn việc  báo hiếu của tôi nhân mùa Vu Lan năm  nay được thúc bách bởi một  sự mất mát to lớn nhất trong đời  tôi. Đồng thời nó bắt nguồn  từ lòng thương Mẹ mà ra. Tôi  muốn tìm một cái gì đó, một hành  động nào đó để may ra lấp bớt  được một khoảng trống trong tâm  hồn.

Ngược dòng thời gian về thời  điểm trước khi Mẹ tôi qua đời,  tôi thường tìm hiểu xem những  người không phải là Phật Tử  họ nghĩ gì về tôn giáo của mình,  để có thêm kiến thức. Tôi cũng  tìm hiểu những giáo lý của Đức  Phật dạy được các học giả  khác tôn giáo với mình và các  nhà khoa học, triết gia Tây Phương có  những nhận xét gì về Phật Giáo  để cũng cố thêm niềm tin của mình  về phương pháp báo hiếu của Đức  Phật dạy.

Trong đó có Giáo Hoàng John Paul II đã  công nhận là rất nhiều tín đồ  Thiên Chúa Giáo có cả các vị Linh  Mục đã áp dụng phương pháp thiền  quán để tu tập, trau dồi thân tâm  của họ.

Một học giả đạo Hồi đã nói:  Đức Phật là của cả nhân loại  (Buddha is for whole mankind. The Buddha is not property of Buddhists  only. He is the property of whole mankind. His teaching is common  to everybody. Every religion, which came into existence after the  Buddha, has borrowed many good ideas from the Buddha).

Triết gia Bertrant Russell ca ngợi Phật Giáo  có triết lý hành động vĩ đại  nhất và lâu đời nhất...

Có thể nói khoa học gia nổi tiếng nhất  thế kỷ, Albert Einstein, đã nói là: Phật  Giáo đương đầu với khoa học”  (Buddhism copes with Science), (If there is any religion that would  cope with modern scientific needs it would be Buddhism).

Theo tôi không phải Phật Giáo đương  đầu với khoa học mà Đức Phật  đã hướng dẫn cho khoa học tự  nhiên tiến lên về mọi mặt mới  đúng. Tôi không muốn dài dòng trìch  dẫn lời Đức Phật để chứng  minh ở đây vì bài báo đã  quá dài. Xin mời bạn đọc đọc  duy thức học ta sẽ thấy Đức Phật  đã giải thích về nguồn gốc của  con người và vũ trụ rất tinh tế,  rất khoa học, khiến các nhà khoa học  và các triết gia phải tìm tòi học  hỏi.

Giáo sư Rhys Davids nói rằng: “không có  tôn giáo nào vượt trội hơn Phật  Giáo”. (Nothing to surpass Buddhist. Buddhist or not Buddhist,  I have examines every one of the great religion systems of the world,  and in none of them have I found anything to surpass, in beauty and  comprehensiveness, the Noble Eightfold Path and the Four Noble Truths  of the Buddha. I am content to shape my life according to that path).  (tham khảo sách “BUDDHISM in the EYES of INTELLECTUALS”  của K. Sri Dhammananda).

Trở lại lời Phật dạy về phương  pháp báo hiếu trong Kinh Đại Báo Phụ  Mẫu Trọng Ân và Kinh Vu Lan: Phật đã  dạy rằng vì công ơn của Cha Mẹ bao  la như biển cả và cao vòi vọi như  trời xanh vô hạn. Vì thế cho nên  chúng ta không thể nào đền đáp  công ơn ấy bằng phương pháp vật  chất hữu hạn được. Hơn nữa  trong cõi luân hồi kể từ vô thủy  đến nay, chúng ta có biết bao nhiêu là  Cha Mẹ thì làm sao chỉ dùng những  phương tiện vật chất để phụng  dưỡng Cha Mẹ hiện tiền mà có  thể đền đáp thâm trọng ân ấy.  Phật đã cho ví dụ là:

 

Ví có người gặp cơn đói  rét

Nuôi song thân dâng hết thân này

Xương nghiền thịt nát phân thây

Trải trăm ngàn kiếp ân đâu chưa  đồng...

(Kinh Báo Ân)

 

Như vậy phải làm thế nào để  báo đáp được hiếu ân đó.  Đức Phật đã dạy rất nhiều  phương pháp trong rất nhiều kinh điển  như Bố Thí Ba La Mật, Thân Cận Ba La Mật,  Chân Thật Ba La Mật... Nhưng hôm nay xin theo  các bộ kinh đã dẫn và đặc biệt  về sự giới hạn của bài này  nên chúng tôi xin tóm lược thành  hai phương pháp đơn giản: Tự Lực  và Tha Lực.

 

Thứ Nhất Là: Tự Lực:

Phát Tâm Vô Thượng Bồ Đề,  cầu Phật Đạo giải thoát, tiến tu,  thật học để đem khả năng của  mình giảng giải cho mọi người chung  quanh chúng ta cùng phát tâm ấy, hướng  về Đạo Vô Thượng Chánh Đẳng  Chánh Giác, và cuối cùng là cầu  nhất thừa Phật Đạo.

Giai đoạn đầu là chúng ta học hỏi  và hiểu thấu đáo về thâm ân  sinh thành của Cha Mẹ. Ăn năn hối cải  những lỗi lầm, nếu có, từ trước  đã làm hại mình hại người  vạ lây tiếng xấu đến song thân.  Giai đoạn kế tiếp là phải siêng  năng không ngừng nghỉ để đạt  được những thành công lớn  trong đời, khiến Cha Mẹ vui lòng toại  nguyện, an tâm vì con... Và làm thế nào  để cho Cha Mẹ cảm nhận được  lòng hiếu kính, yêu thương của mình  đối với Cha Mẹ. Đồng thời  phải có tâm niệm sung sướng không  gì bằng khi mình còn được Cha Mẹ  trên đời. Bởi vì nếu Cha Mẹ  biết được điều đó Cha Mẹ  cũng sung sướng vô vàn. Những  điều vừa kể rất đơn giản  nhưng không kém phần khó khăn khi thực  hiện được nó. Giai đoạn cuối  cùng như trên đã nói là cầu  nhất thừa Phật Đạo để giải  thoát cho mình, và phổ độ giải thoát  cho Cha Mẹ nhiều đời đã qua và  hiện tiền Cha Mẹ sống lâu và tránh  khỏi những ách nạn trong đời.

 

Thứ Hai là: Tha Lực: 

Như Đưc Phật đã dạy trong Kinh Vu Lan,  cho dù chứng được quả Bồ  Tát và đã được thần thông  quảng đại như Ngài Mục Kiền Liên,  cộng với tiếng tăm lừng cả trời  người đều nể phục đi chăng  nữa, một mình Ngài không thể nào  cứu được Mẹ Ngài trong điạ  ngục và càng không thể cầu siêu  độ cho Cha Mẹ bảy đời trước  đó nữa. Như vậy chỉ có một  cách là cầu Tha Lực. Hay nói đúng  hơn là cầu Cộng Lực của chư Tăng  trong mười phương tụ hội nhân  ngày rằm tháng bảy, Trong hàng chư Tăng  đó gồm có phàm Tăng, thánh Tăng,  và những hàng Bồ Tát mười  phương vì nguyện lực độ sinh nên  các Ngài đã hiện hình làm Phàm  Tăng thân cận chúng ta.

Nhân ngày ấy nhờ thần lực Chư  Tăng chú nguyện cho sở cầu báo hiếu  của chúng ta được viên thành.

(Viên Giác, số 94)