Saigon Times


Menu



Đài Tưởng Niệm

Thuyền Nhân

Việt Nam

Tiếp Theo...

* CẦU NGUYỆN VÀ TƯỞNG NIỆM NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM 2016 TẠI NAM CALI


* 40 NĂM QUỐC HẬN LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN, BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* 30 THÁNG TƯ, TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* BI SỬ THUYỀN NHÂN (Nguyễn Quốc Cường)


* BIỂN ĐÔNG LỤC BÌNH TRÔI


* CÁI GIÁ CỦA TỰ DO


* CÁNH BÈO BIỂN CẢ (Văn Qui)


* CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ CON TÀU MANG SỐ MT065


* CẦU SIÊU BẠT ĐỘ TẠI ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM WESTMINSTER


* CHUYỆN KỂ HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG (Nhiều Tác Giả)


* CHỨNG TÍCH ĐỂ ĐỜI: ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* CHUYẾN VƯỢT BIÊN ĐẪM MÁU (Mai Phúc)


* CHUYẾN VƯỢT BIỂN HÃI HÙNG


* CON ĐƯỜNG TÌM TỰ DO (Trần Văn Khanh)


* CÒN NHỚ HAY QUÊN (Nguyễn Tam Giang)


* DẠ TIỆC VĂN NGHỆ "LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG" THÀNH CÔNG NGOÀI DỰ KIẾN CỦA BAN TỔ CHỨC


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Việt Hải)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TẠI QUẬN CAM (Vi Anh)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM: BIỂU TƯỢNG THIÊNG LIÊNG CỦA NIỀM KHÁT VỌNG TỰ DO VÀ NHÂN QUYỀN


* ĐÊM DÀI VÔ TẬN (Lê Thị Bạch Loan)


* ĐI VỀ ĐÂU (Hoàng Thị Kim Chi)


* GALANG: BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM BỊ PHÁ BỎ


* GALANG MỘT THỜI - MỘT ĐỜI (Nguyễn Mạnh Trinh)


* GIÁNG NGỌC PHỎNG VẤN NHÀ THƠ THÁI TÚ HẠP VÀ NỮ SĨ ÁI CẦM VỀ LỄ KHÁNH THÀNH ĐTNTNVN


* GIỌT NƯỚC MẮT CHO NGƯỜI TÌM TỰ DO (Lê Đinh Hùng)


* HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT


*"HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG: TỰ DO, MỘT NHU CẦU THIẾT YẾU, ĐÁNG ĐỂ TA ĐI TÌM"


*HÀNH TRÌNH GIAN NAN TÌM TỰ DO  


* HÀNH TRÌNH TÌM CON NƠI BIỂN ĐÔNG


* HÌNH ẢNH MỚI NHẤT CHUẨN BỊ KHÁNH THÀNH VÀO THÁNG 04-2009


* HÒN ĐẢO BỊ LÃNG QUÊN (Meng Yew Choong)


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ VINH DANH ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ WESTMINSTER THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT “NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM”


* KHÁNH THÀNH ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI NAM CALI


* KHẮC TÊN TRÊN BIA TƯỞNG NIỆM (Việt Hải)


* LÀN SÓNG THUYỀN NHÂN MỚI


* LỄ ĐỘNG THỔ KHỞI CÔNG XÂY DỰNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* LỄ KHÁNH THÀNH TRỌNG THỂ ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI QUẬN CAM


* LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TỔ CHỨC TRANG NGHIÊM TẠI NGHĨA TRANG WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* LÒNG NHÂN ÁI (Tâm Hồng)


* LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG (Thơ Thái Tú Hạp)


* MEMORIAL TO BOAT PEOPLE WHO DIED TO BE DEDICATED SATURDAY


* MỘT CÁI GIÁ CỦA TỰ DO (Trần Văn Hương)


* MƠ ƯỚC "MỘT NGÀY TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN" ĐÃ TRỞ THÀNH SỰ THẬT


* NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM THỨ 5


* "NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM" TỔ CHỨC TRỌNG THỂ TẠI WESTMINSTER


* NGƯỜI PHỤ NỮ SỐNG SÓT SAU CHUYẾN VƯỢT BIỂN KINH HOÀNG


* NHỮNG CHUYỆN HÃI HÙNG CỦA THUYỀN NHÂN (Biệt Hải)


* NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT ĐỀU CÓ THẬT (Ngô Dân Dụng)


* NHỮNG THÁNG NGÀY YÊU DẤU NƠI HOANG ĐẢO (Tuấn Huy)


* NỖI BẤT HẠNH ĐỜI TÔI (Thùy Yên) 


* NỖI KHỔ CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Thy Vũ Thảo Uyên)


* NƯỚC MẮT CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Nguyễn Mỹ Linh)


* SAIGON TIMES PHỎNG VẤN MỤC SƯ HÀ JIMMY CILLPAM 4 NĂM CÓ MẶT TRÊN TÀU AKUNA CỨU HƠN 5000 NGƯỜI VIỆT NAM VƯỢT BIỂN TÌM TỰ DO TRÊN BIỂN ĐÔNG


* TÀU SẮT BẾN TRE (Tú Minh)


* THẢM KỊCH BIỂN ĐÔNG (Vũ Duy Thái)


* THẢM SÁT TRÊN ĐẢO TRƯỜNG SA


* THỊ XÃ WESTMINSTER VINH DANH TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN


* THÔNG BÁO CỦA ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VN


* THƠ LÀM KHI ĐỌC TIN THUYỀN NHÂN (Viên Linh)


* THUYỀN NHÂN: ẤN TÍCH LỊCH SỬ


* THUYỀN NHÂN VÀ BIỂN ĐỘNG


* THUYỀN NHÂN VÀ MỘT VÀI HÌNH ẢNH CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN


* THUYỀN NHÂN VIỆT NAM VƯỢT BIÊN, TỬ NẠN, ĐẾN BỜ TỰ DO ĐÃ GIÚP NHÂN LOẠI NHÌN RÕ ĐƯỢC CHÂN TƯỚNG CỦA CỘNG SẢN (Lý Đại Nguyên)


* TRÔI GIẠT VỀ ĐÂU (Nguyễn Hoàng Hôn)


* TRỞ VỀ ĐẢO XƯA... (Nguyễn Công Chính)


* TỪ TẤM BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN Ở GALANG NHÌN RA CON ĐƯỜNG HÒA GIẢI


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN VIỆT NAM ĐÃ CHÍNH THỨC ĐƯA VÀO WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN ĐÃ ĐƯỢC ĐẶT VÀO VỊ TRÍ AN VỊ TRONG KHUÔN VIÊN WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30-4-2012

* VĂN TẾ THUYỀN BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* VƯỢT BIỂN (Thanh Thanh)


* VƯỢT BIỂN MỘT MÌNH (Nguyễn Trần Diệu Hương)


* XIN VỀ ĐÂY CHỨNG GIÁM, AN GIẤC NGÀN THU


* XÓA DẤU VẾT TỘI ÁC (Phạm Phú Minh)


 Saigon Times USA

 

 

TRẦN DZẠ LỮ VÀ

NHỮNG DẤU CHÂN

ĐỜI PHIÊU LÃNG...

 

LƯƠNG TRUNG THƯ

 

Trần Dzạ Lữ sanh năm 1949 tại Huế, làm thơ từ lúc mới 16 tuổi, cái tuổi mà nhiều đứa trẻ cùng thời với ông còn vô tư lự, hồn nhiên giữa những cảnh đời nhiều bất trắc. Trần Dzạ Lư những ngày mới lớn ấy đã biết ngậm ngùi trước cảnh đưa tiễn một người nằm xuống bên đời:

 

“Người đi theo bóng thiên thu,

Bỏ đầy năm tháng xa mù nhân gian.

Nhớ thương chim khóc trên ngàn

Nước ngơ đất ngất trời mang sầu...”

(Nhớ một nhà văn, 1965)

 

Những nhóm chữ “bóng thiên thu”, “bỏ đầy năm tháng”, “trên ngàn”, “trời mang mang sầu” quả là những “ngôn ngữ thơ” theo lối nói bây giờ, Trần Dzạ Lư đã được Trời phú cho cái tài dùng chữ để chuyên chở những nỗi niềm của một tâm hồn nghệ sĩ thật ngậm ngùi khi nhớ về một nhà văn đã ra người thiên cổ, cũng là một nghệ sĩ.

Là một người sanh ra vào những năm cuối của thập niên 1940, nghĩa là thế hệ lớn lên trong chiến tranh vào những năm 1960 sau đó, Trần Dzạ Lư phải từ giã học đường và lên đường ra mặt trận. Chiến tranh, qua thơ Trần Dzạ Lư, là một dấu tích không đầy như “Dấu Binh Lửa”, “Dọc Đường Số 1”, “Mùa Hè Đỏ Lửa” của Phan Nhật Nam, nhưng thơ ông cũng ghi đậm nét một thời binh lửa cũ. Cũng vào cái thời “Mùa Hè Đỏ Lửa” ấy của cuộc chiến, Trần Dzạ Lư với “bữa cơm ngoài chiến trường” ông làm tại địa danh Phong Điền vào ngày 25 tháng 5 năm 1972, cho người đọc hình dung ra cái gian lao cơ cực cùng mối nguy hiểm của người lính giữa chiến tranh với đầy lòng nhân ái của một con người lúc nào cũng nhớ về mẹ hiu quạnh nơi góc trời nào, về em đang chạy giặc, về “xóm làng”, về “đất trời” cây cỏ dặm ngàn:

 

“Bốn năm thằng lơ láo

Áo quần rách tả tơi

Ăn cơm bên xác người

Tay bốc tay cầm súng

 

Lòng nhớ mẹ phương Tây

Ý thương em chạy giặc

Xóm làng sầu khôn khuây

Đất trời thêm hiu hắt.

 

Ăn xong múc nước ruộng

Uống đại cho qua ngày

Quê nhà em có biết

Chinh chiến thân lưu đày?

 

Ăn được là điều may

Có khi ha, ba ngày

Không ăn, chẳng có uống

Ta nằm với cỏ cây.”

(Bữa cơm ngoài chiến trường, 25-5-1972)(*)

 

Chiến trường trong thơ Trần Dzạ Lư còn là bút tích của một thời kỳ nhiễu nhương của đất nước. Nó là vết tích trăm năm của những buổi giao tranh chết chóc ngoài mặt trận giữa những thanh niên cùng trang lứa của hai miền Nam Bắc một thời; nhưng qua ngòi bút của Trần Dzạ Lư, người lính miền Nam khi lâm trận cũng như lúc trận mạc vừa tàn:

 

 “Chiều Mai Lộc núi đồi điên loạn

quân hai bên đánh đá mút mùa

thằng xấu số chết vì xấu số

bỏ vợ con đau xót ở quê nhà

 

Chiều Mai Lộc không mưa không nắng

lửa cháy trong hồn những kẻ đi xa

này anh lính nhỏ nhoi miền Bắc

giữa sương mù anh có nhận ra ta ?

 

Chiều Mai Lộc thành nơi nghĩa địa

quân hai bên ngã gục giữa đất trời

mây khóc đầu non vì buồn ly loạn

cỏ cây run trong gió lạnh tanh rồi...”

(Chiều Mai Lộc, tặng PH.T.Mùa Thu)

 

Người lính trận khi ở đồng bằng uống nước múc từ dưới ruộng bùn, và khi người lính băng qua những cánh rừng già, đời lính cũng chẳng hay hơn gì. Ở đó cũng chỉ có cơ cực và hiểm nguy, chết chóc, là những xác thây rã mục, những mùi hôi tanh nồng nặc của thuốc súng và thây người, là bia mộ của các chiến hữu cùng đơn vị đựng đầy trong hồn, là những nụ hôn người tình chưa kịp thì vội vàng "hôn đất" của hố ham, là những thương nhớ thiết tha một chốn cũ với những hẹn hò bỏ lại:

 

"Em đừng hỏi ở rừng có gì lạ

Có gì đâu xương rã với hồn đau

Và khi không tháng giêng lên núi

Đời đày ta và thần thánh xa nhau

 

Em đừng hỏi ở rừng có gì lạ

Có gì đâu ngày buồn bã vô cùng

Đêm thì tối nhớ trăm phương ngàn ngã

Nhớ mẹ già hôm sớm mỏi mòn trông

 

Em đừng hỏi ở rừng có gì lạ

Có gì đâu giày áo đó hôi rình

Khi về phố chắc ta thành khách lạ

Thành người điên với dáng thú buồn tênh.

 

Em đừng hỏi ở rừng có gì lạ

Có gì đâu bia mộ dựng trong hồn

Bạn bè ta ưu tư ngủ gục

Với rừng già rách nát thương tâm

 

Em đừng hỏi ở rừng có gì lạ

Có gì đâu lửa cháy trong đầu

Và lòng ta thác sầu đôi ngã

Biết ngã nào về chốn cũ tìm nhau

 

Em đừng hỏi ở rừng có gì lạ

Có gì đâu ta từ buổi lên đường

Hôn chưa kịp em - bây giờ hôn đất

Thay chiếu giường băng hầm hố cô đơn.

 

Em đừng hỏi ở rừng có gì lạ

Có gì đâu rừng rú điêu tàn

Nai lạc dấu - ngàn thương trăng cũ

Ta nhớ người tình quay quắt trong sương."

(Thư gửi người ở lại, năm 197

 

Chiến tranh vào năm 1971, trước "mùa hè đỏ lửa" của 1972 là như thế đó. "Hôn chưa kịp em - bây giờ hôn đất. Thay chiếu giường bằng hầm hố cô đơn"!!! Thế nhưng người lính mà nhất là người lính làm thơ nữa, thì cái nỗi tương tự lại được Trần Dzạ Lữ chở đầy trong nỗi nhớ:

 

"Ra sông thấy gái Thượng ngồi

Giặt khăn vắt áo miệng cười vô tư

Nhớ em ai lấp cho bù

Hồn tôi một dãi đất mù mịt mưa."

(Ngày Xuân cũng ở Thường Đức, 1971)

 

Theo chân Trần Dzạ Lữ, người đọc thơ bắt gặp ông đi khắp cùng. Có lúc ông lại về Bến Tre xứ của dừa và cây lành trái ngọt miệt vườn. Nhưng vào thời chinh chiến sôi sụt ấy của đất nước, người lính dù là người lính làm thơ vẫn không khỏi nhận ra chiến tranh đang ở cùng khắp mọi nơi cho dù đang giữa miệt vườn:

 

"Về đây trời đất không mùa

Phiêu linh bước ngựa, chơi đùa tử sinh."

(Thơ làm ở Bến Tre, 1974)

 

Với cái chết trong chiến tranh là cái chết không cầu mà đến. Người lính làm thơ Trần Dzạ Lữ cũng đã nói lên cái giây phút mong manh ấy như những nỗi niềm cho chính mình và cho nhiều chiến hữu cùng hoàn cảnh như mình trong thời binh lửa sụt sôi ngùn ngụt:

 

"Chiều lên nốc rượu giải buồn

Rừng kia đứt ruột ta đờn đứt day

Xa em nhớ tháng thương ngày

Ngó ra bè bạn một bầy cô đơn

Mùa xuân châu giọt đầu non

Lương chưa lảnh kịp biết còn sống không?"

(Chiều tôi)

 

Thơ Trần Dzạ Lữ viết về chiến tranh còn nhiều và mỗi mỗi câu thơ nào của ông cũng là những bút tích của một thời binh lửa như những vết hằn lên ký ức 33 năm sau chiến trận đã tàn và hôm nay đọc lại thơ ông, người đọc cảm nhận vẫn như còn đó những mùa chinh chiến chưa tàn.

Là một nhà thơ, và là một chứng nhân của thời đại mà tác giả đã sống, Trần Dzạ Lữ dù bỏ thơ một thời gian dài, khá dài sau chiến tranh, 1975 - 1989, với 14 năm không thấy thơ ông, và rồi thơ ông lại có mặt với những dấu ấn về những bước chân đời của mình qua những thăng trầm của dòng sông đời nhiều sóng gió. Trần Dzạ Lữ vẫn là một người lữ hành theo dòng sống tuôn trào và mỗi một bến bờ nào ông ghé lại giữa cuồng lưu của dòng sông trôi, ông đều khắc họa lại như một vết tích của một người đi qua và để lại.

Người đọc cảm nhận được điều ấy qua lúc ông đi cải tạo về, bỏ Huế vào Sài Gòn, rồi lại ra miền Trung lên rừng tìm trầm; lại không khá hơn gì, ông lại xuôi vô Sài Gòn, làm đủ mọi nghề như vá xe đạp, bán rau muống, mua bán ve chai, đồng vụn và giờ đây ông làm nghề giữ xe ở chợ Trần Hữu Trang, Phú Nhuận, Sài Gòn. Dù trải qua những chặng đời nhiều bất trắc như thế, nhưng ở một góc sâu trong hồn thi sĩ, Trần Dzạ Lữ vẫn không thôi suy tư về cuộc đời, về thế nhân và về kiếp người.

Xin mời quý vị nghe nỗi cô đơn của một thi sĩ mà chúng tôi tình cờ đọc được qua mười năm "Ở chợ" bán "rau xanh" của tác giả:

 

"Mười năm ở chợ không tri kỷ

Ta đứng thu thân một nỗi buồn

Sáng bảnh mắt ra ngồi độc ẩm

Chiều về tra vấn lấy lương tâm

 

Mười năm ở chợ, ơi trần trụi

Em ạ, em xa ở kiếp nào?

Có thấy ngày xanh ta chuốc mộng

Không thành nên đắp chiếu thương đau

 

Ở chợ đông, sao hồn cứ lạnh

Đốt thuốc hoài không ấm nửa chiều

Thiên hạ đùn nhau đi kiếm sống

Nhân ái? Tang - thương - ngẫu - lục nhiều

 

Ta bán rau xnah ngày mệt lử

Đêm còn ngồi đọc sách thánh hiền

Cố quên cơm áo - Vòng danh lợi

Sao đời nỡ hối thúc bên lưng?

 

Mười năm ở chợ không thay đổi

Tâm tánh ta xưa vốn thật thà

Đâu ước công hầu mơ khanh tướng

Bạc tuổi thanh xuân mong có nhà!

 

Hồn ta ở chợ thương quê cũ

Nhớ áo nâu xưa, nhớ mẹ già

Nhớ bông bưởi rụng đêm mười sáu

Thơm ngát môi em trước hiên nhà

 

Mười năm ở chợ không tri kỷ

Gác chuyện văn chương thấy chẳng đành

Nên ta độc thoại - Ta đây nhỉ?

Thương nhớ xa xăm một bóng hình."

(Ở chợ, tăng Trần Xuân An, 1989)

 

Quả thật đây là nỗi hiu quạnh tột cùng của một tâm hồn thi sĩ giữa chợ đời ồn ào mà lạnh nhạt tình người, để thi nhân bồi hồi than thở một mình: "Ở chợ đông, sao hồn cứ lạnh. Đốt thuốc hoài không ấm nửa chiều". Ở đây, là người đọc cùng thế hệ với tác giả, rồi cũng thấy chiến tranh, cũng vào đời giữa thời binh lửa và rồi cũng trải qua bảy năm trong trại cải tạo; rồi về lại nhà và lăn lóc kiếm sống trên những ruộng đồng ngập lụt, tôi cảm nhận được nỗi cô đơn tận cùng của tác giả vào những ngày "ở chợ" ấy của ông. Than ôi, phải chăng đây là một thời kỳ cơ cực trong dòng đời đầy kham khổ ấy, chừng như còn đong đầy trong nỗi nhớ của những chàng trai trẻ ngày nào dù nay tuổi đời đang cùng nhau ở buổi xế chiều này!!!

Những năm tháng "ở chợ". Chợ "rau xanh" hay chơ đời cũng chẳng khác gì nhau, Trần Dzạ Lữ có những ước mơ rất gần là muốn kiếm tìm một nơi chốn nhỏ nhoi để về đặt được cái lưng sau những ngày mỏi mệt giữa chợ đời là một căn "gác lửng" và rồi nhà thi sĩ lang bạt kỳ hồ ấy rồi ra cũng đã rờ được chút ước mơ trong đời thật:

 

"Này gác lửng, hơn nửa đời rồi đó

Ta mơ có mày giữa cuộc phù vân

Đời thử ta như lửa thử vàng

Cay đắng bủa quanh hồn xưa chao chớn

Có đôi lúc óc cùn chí đun

Muốn xuôi tay trả lại tuổi vàng

Chim có tổ mà ta thì phiêu lãng

Dắt nhau đi qua quạng kiếm thiên đàng..."

(Ngày xuân trò chuyện cùng gác lửng, 1989)

 

Nhưng một cách nào đó, người đọc còn bắt gặp những câu thơ về cuộc đời, "gác lửng" nơi này, ngoài ý nghĩa là một nơi chốn che nắng che mưa, nó còn là "gác lửng" cuộc đời, mấy mươi năm trải qua những năm tháng sống giữa chợ đời như căn nhà, nhưng thật ra chỉ mới là một "gác lưng" ở lưng chừng giữa một đời người:

 

"Còn ta nữa, thằng làm thơ lang thang

Cũng phải bơi theo dòng đời chóng mặt

Lầm lũi kiếm từng li vàng giữa trời cao đất thấp

Rủi may ơi, ta biết đâu lường

 

Sống khó vô cùng ơi gác lửng

Thế mà mấy mươi năm ta cũng qua cầu

Nay có mày nhẹ gánh chim bao

Nhưng ngoảnh lại tóc râu đã bạc."

(Ngày xuân trò chuyện cùng gác lửng, 1989)

 

Tự nhận mình là người "hát dạo bên trời", Trần Dzạ Lữ là tiếng hát luôn kiếm tìm một cung bậc rất gần, rất êm đềm, rất nhân ái hầu trao gởi đến những tâm hồn đồng cảm về một quảng đời, về những năm tháng thi nhân phiêu bạt giữa những mùa binh lửa hay những buổi chợ đại mà tác giả đã sống và từng trải, Trần Dzạ Lữ còn là người viết sử bằng thơ qua ngôn ngữ của riêng ông, một thứ ngôn ngữ nhất quán từ những ngày đầu ông bắt đầu làm thơ và cho mãi tới bây giờ. Phải chăng, đó cũng là cái nét riêng rất đặc thù của Trần Dzạ Lữ sau mấy mươi năm khắc khoải giữa dòng đời bằng những dấu chân đời phiêu lãng của ông...!!!

 

Houston, ngày 23-4-2008

 

Phụ chú:

(*) Tất cả các vần thơ trong bài viết này trích từ cuốn "Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến", quyển 1, phần thơ của Trần Dzạ Lữ, do Thư Ấn quán sưu tầm và xuất bản năm 2006 và in rải rác trong các tạp chí Thư Quán Bản Thảo