SG1


Menu



Đài Tưởng Niệm

Thuyền Nhân

Việt Nam

Tiếp Theo...

* CẦU NGUYỆN VÀ TƯỞNG NIỆM NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM 2016 TẠI NAM CALI


* 40 NĂM QUỐC HẬN LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN, BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* 30 THÁNG TƯ, TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* BI SỬ THUYỀN NHÂN (Nguyễn Quốc Cường)


* BIỂN ĐÔNG LỤC BÌNH TRÔI


* CÁI GIÁ CỦA TỰ DO


* CÁNH BÈO BIỂN CẢ (Văn Qui)


* CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ CON TÀU MANG SỐ MT065


* CẦU SIÊU BẠT ĐỘ TẠI ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM WESTMINSTER


* CHUYỆN KỂ HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG (Nhiều Tác Giả)


* CHỨNG TÍCH ĐỂ ĐỜI: ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* CHUYẾN VƯỢT BIÊN ĐẪM MÁU (Mai Phúc)


* CHUYẾN VƯỢT BIỂN HÃI HÙNG


* CON ĐƯỜNG TÌM TỰ DO (Trần Văn Khanh)


* CÒN NHỚ HAY QUÊN (Nguyễn Tam Giang)


* DẠ TIỆC VĂN NGHỆ "LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG" THÀNH CÔNG NGOÀI DỰ KIẾN CỦA BAN TỔ CHỨC


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Việt Hải)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TẠI QUẬN CAM (Vi Anh)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM: BIỂU TƯỢNG THIÊNG LIÊNG CỦA NIỀM KHÁT VỌNG TỰ DO VÀ NHÂN QUYỀN


* ĐÊM DÀI VÔ TẬN (Lê Thị Bạch Loan)


* ĐI VỀ ĐÂU (Hoàng Thị Kim Chi)


* GALANG: BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM BỊ PHÁ BỎ


* GALANG MỘT THỜI - MỘT ĐỜI (Nguyễn Mạnh Trinh)


* GIÁNG NGỌC PHỎNG VẤN NHÀ THƠ THÁI TÚ HẠP VÀ NỮ SĨ ÁI CẦM VỀ LỄ KHÁNH THÀNH ĐTNTNVN


* GIỌT NƯỚC MẮT CHO NGƯỜI TÌM TỰ DO (Lê Đinh Hùng)


* HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT


*"HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG: TỰ DO, MỘT NHU CẦU THIẾT YẾU, ĐÁNG ĐỂ TA ĐI TÌM"


*HÀNH TRÌNH GIAN NAN TÌM TỰ DO  


* HÀNH TRÌNH TÌM CON NƠI BIỂN ĐÔNG


* HÌNH ẢNH MỚI NHẤT CHUẨN BỊ KHÁNH THÀNH VÀO THÁNG 04-2009


* HÒN ĐẢO BỊ LÃNG QUÊN (Meng Yew Choong)


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ VINH DANH ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ WESTMINSTER THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT “NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM”


* KHÁNH THÀNH ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI NAM CALI


* KHẮC TÊN TRÊN BIA TƯỞNG NIỆM (Việt Hải)


* LÀN SÓNG THUYỀN NHÂN MỚI


* LỄ ĐỘNG THỔ KHỞI CÔNG XÂY DỰNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* LỄ KHÁNH THÀNH TRỌNG THỂ ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI QUẬN CAM


* LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TỔ CHỨC TRANG NGHIÊM TẠI NGHĨA TRANG WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* LÒNG NHÂN ÁI (Tâm Hồng)


* LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG (Thơ Thái Tú Hạp)


* MEMORIAL TO BOAT PEOPLE WHO DIED TO BE DEDICATED SATURDAY


* MỘT CÁI GIÁ CỦA TỰ DO (Trần Văn Hương)


* MƠ ƯỚC "MỘT NGÀY TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN" ĐÃ TRỞ THÀNH SỰ THẬT


* NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM THỨ 5


* "NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM" TỔ CHỨC TRỌNG THỂ TẠI WESTMINSTER


* NGƯỜI PHỤ NỮ SỐNG SÓT SAU CHUYẾN VƯỢT BIỂN KINH HOÀNG


* NHỮNG CHUYỆN HÃI HÙNG CỦA THUYỀN NHÂN (Biệt Hải)


* NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT ĐỀU CÓ THẬT (Ngô Dân Dụng)


* NHỮNG THÁNG NGÀY YÊU DẤU NƠI HOANG ĐẢO (Tuấn Huy)


* NỖI BẤT HẠNH ĐỜI TÔI (Thùy Yên) 


* NỖI KHỔ CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Thy Vũ Thảo Uyên)


* NƯỚC MẮT CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Nguyễn Mỹ Linh)


* SAIGON TIMES PHỎNG VẤN MỤC SƯ HÀ JIMMY CILLPAM 4 NĂM CÓ MẶT TRÊN TÀU AKUNA CỨU HƠN 5000 NGƯỜI VIỆT NAM VƯỢT BIỂN TÌM TỰ DO TRÊN BIỂN ĐÔNG


* TÀU SẮT BẾN TRE (Tú Minh)


* THẢM KỊCH BIỂN ĐÔNG (Vũ Duy Thái)


* THẢM SÁT TRÊN ĐẢO TRƯỜNG SA


* THỊ XÃ WESTMINSTER VINH DANH TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN


* THÔNG BÁO CỦA ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VN


* THƠ LÀM KHI ĐỌC TIN THUYỀN NHÂN (Viên Linh)


* THUYỀN NHÂN: ẤN TÍCH LỊCH SỬ


* THUYỀN NHÂN VÀ BIỂN ĐỘNG


* THUYỀN NHÂN VÀ MỘT VÀI HÌNH ẢNH CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN


* THUYỀN NHÂN VIỆT NAM VƯỢT BIÊN, TỬ NẠN, ĐẾN BỜ TỰ DO ĐÃ GIÚP NHÂN LOẠI NHÌN RÕ ĐƯỢC CHÂN TƯỚNG CỦA CỘNG SẢN (Lý Đại Nguyên)


* TRÔI GIẠT VỀ ĐÂU (Nguyễn Hoàng Hôn)


* TRỞ VỀ ĐẢO XƯA... (Nguyễn Công Chính)


* TỪ TẤM BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN Ở GALANG NHÌN RA CON ĐƯỜNG HÒA GIẢI


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN VIỆT NAM ĐÃ CHÍNH THỨC ĐƯA VÀO WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN ĐÃ ĐƯỢC ĐẶT VÀO VỊ TRÍ AN VỊ TRONG KHUÔN VIÊN WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30-4-2012

* VĂN TẾ THUYỀN BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* VƯỢT BIỂN (Thanh Thanh)


* VƯỢT BIỂN MỘT MÌNH (Nguyễn Trần Diệu Hương)


* XIN VỀ ĐÂY CHỨNG GIÁM, AN GIẤC NGÀN THU


* XÓA DẤU VẾT TỘI ÁC (Phạm Phú Minh)


 Saigon Times USA

 

 

SỐNG  ĐỂ VIẾT, HAY,

VIẾT ĐỂ SỐNG …

 

NGUYỄN MẠNH TRINH

 

Một câu hỏi thường hay đến với người cầm bút : Viết ? Tại   sao viết và viết thế nào ?Trả lời câu hỏi ấy,  có khi rất giản dị nhưng cũng có khi cực kỳ khó khăn. Viết , có phải là một cách thế để sống đời sống thực ? Hay là một cách sống với thế giới riêng mình  cả những ước mơ ? Mỗi người một ý nghĩ , ở thời đại hiện nay, nhất là với những người  Việt Nam đã trải qua nhiều biến cố , ở những vị trí khác nhau, có khi là chiến tuyến đối nghịch , thì văn chương phỉa phản ánh được nỗi niềm của cả một thế hệ.Có những người, viết để giải tỏa những ẩn ức của đời lưu lạc. Có người , coi viết là một cái nghiệp tay trái  phải trả  trong khi tay phải vẫn khư khư cái  nghề để mưu sinh. Từ những quan niệm khác nhau , những suy tư khác nhau, có lẽ đã xảy ra cuộc tranh luận . Và , câu trả lời vẫn là những  phân vân bất định. …

Có người làm thơ lúc nào cũng bức xúc với câu trả lời phải viết thế nào và ra sao . Hình như , chỉ là sự gợi ý mà không phải là những ý nghĩ khẳng định hay phủ định. Cách nay một thế kỷ , Rainer Maria Rilke  trong tác phẩm Thư Gửi Người Thi Sĩ Trẻ Tuổi , gồm 10 lá thư gửi cho Franz Xavez Kappus  đã nêu ra một vấn đề mà tới nay vẫn còn tồn tại . Một vấn đề muôn thuở của người làm thơ thường suy ngẫm . Tôi đọc một doạn trong lá thư đầu tiên ( bản dịch Phạm thị Hoài ):

Không ai có thể khuyên ông và giúp ông , không một ai. Chỉ có một cách duy nhất mà thôi. Ông hãy  đi vào chính mình . Hãy truy cứu cái nguyên nhân khiến mình cầm bút , hãy kiểm tra xem nó có bắt rễ từ chỗ sâu xa nhất của trái tim không, hãy tự thú xem nếu không viết liệu mình có chết nổi không? Và trước  hết hãy tự hỏi mình vào giờ khắc tĩnh mịch nhất trong đêm, ta có phải viết không? Ông hãy đào xới trong chính mình tìm câu trả lời tận gốc . Và nếu có khẳng định , nên ông có quyền đáp lại  câu hỏi nghiêm trọng ấy bằng một lời mạnh mẽ và giản dị rằng “ Ta phải viết “ thì ông hãy xây đời mình trên sự tất yếu ấy , cuộc đời ông ngay cả trong những giây phút dửng dưng và tầm thường nhất cũng phải trở thành dấu hiệu và chứng chi của sự thôi thúc ấy . Rồi ông hãy đến gần thiên nhiên . Hãy thử làm người thứ nhất nói về những gì mình thấy , mình trải qua, yêu thương và đánh mất. Ông đừng viết thư tình , đầu tiên ông nên tránh những thể loại đã quá thông dụng và quen thuộc, đấy là những thể loại khó nhất , vì sức phải lớn và chín muồi mới  đưa ra được một cái gì riêng giữa vô số thành công  và phần nào thành công xuất sắc  của người đi trước.  Do đó ông đừng bén mảng đến nhữn mô típ chung chung mà hãy lui về với những mô típ do chính ngày thường  của  mình cung cấp, ông hãy tả ra nỗi buồn và niềm mong ước , những ý nghĩ thoảng qua và lòng tin vào một ngày tốt đẹp nào đó. Hãy tả tất cả với lòng chân thành tha thiết , thầm lặng và nhẫn nhục , và hãy xử dụng mọi vật quanh ông , những hình ảnh trong mơ vànhững đối tượng của  hồi ức  làm phương tiện diễn đạt . Nếu ông thấy ngày thường của mình  quá nghèo nàn  thì xin đừng buộc tội nó , hãy buộc tội chính mình , hãy tựn nhủ rằng mình không đủ tầm thi sĩ để gọi ra những tài nguyên  của nó , bởi lẽ không có cái nghèo  và không chỗ nào là nghèo nàn  chẳng đáng đếm xỉa tới  đối với người sáng tạo…”

Đọc sách , cũng học và biết nhiều điều . Mà , ngay cả khi  đàn đúm chuyện trên trời dưới đất , cũng câu hỏi trên vẫn ám ảnh , canh cánh trong lòng…

Mỗi  sáng cuối tuần tôi hay ghé quán cà phê ngồi tán dóc với bạn bè. Một tuần qua rất mau với những ngày thứ hai tới thứ sáu tất bật để có những ngày thứ bảy, chủ nhật thoải mái. Cũng là một cách để cuộc đời còn  có niềm vui. Ở  đó, tôi gặp nhiều người bạn . Có người, nói chuyện vui vẻ, để cho qua một buổi  sáng nhiều nụ cười , quên đi những lo lắng của cuộc sống. Những câu chuyện giỡn, những chuyện tiếu lâm. Nhưng , thỉnh thoảng ,  cũng có người bạn, sau khi chuyện vãn lại làm ưu tư hơn.Thí dụ như với một anh bạn mà tôi kể sau đây làm tôi cứ bâng khuâng cả tháng trời…

Thành thật mà nói, anh là người đọc sách rất nhiều và có những suy tư thấu đáo. Nói chuyện với anh, nhiều khi tôi như đi lạc vào những trang sách và có lúc như bị lạc lối không tìm được ngõ ra.  Một buổi sáng, khi nói chuyện về giải Nobel văn chương của Hàn Lâm Viện Thụy Điển , tôi  buột miệng nói rằng người Việt Nam đã trải qua những cách thế có một không hai trên thế giới với những đề tài tự thân nó đã có sức thuyết phục ghê gớm, thế mà chưa có một  ai  cầm bút được lọt vaò trong trào lưu văn học thế giới.Thân phận con người Việt Nam, chiến tranh, thuyền nhân, .. toàn là những lãnh địa bao la cho sáng tác…

Thế là ông bạn quí của tôi có dịp “ ăn nói”.  Ông mang Milan Kundura để nói chuyện . Trong” The Art of the Novel “ nhà văn này  đã suy luận theo những trào lưu của văn học hiện đại. Vói những sự vận động và tìm tòi không ngưng nghỉ, sự cách tân trong bút pháp cũng như bố cục truyện được coi như một mục đích tối hậu cho bút mực.Làm mới  văn xuôi tự sự  cũng như thay đổi cung cách suy nghĩ về quan niệm, vai trò, vị trí, hành động, chức năng của nhân vật, Kundura đã đi từ James Joyce , Marcel  Proust, Franz  Kafka đến tự bản thân mình.

Ở James Joyce, nhân vật ở trạng thái trở về hình thức đối thoại nội tâm triệt để mỗi khi bị lôi kéo vào một tình trạng chỉ trong khoảnh khắc của thì hiện tại.

Ở  Marcel  Proust, nhân vật được diễn tả và xuất hiện với tất cả sự huyền diệu và kích thích nỗi ngạc nhiên về cái vũ trụ nội tại của linh hồn con người. Hành trình “ Đi tìm thời gian đánh mất”  gồm mười lăm quyển sách mở ra những cánh cửa đi vào khung trời tiểu thuyết bao la nhiều chất suy tưởng.

Còn với Franz Kafka nhân vật chỉ còn là  hiện thân  cho một vấn nạn “ Đâu là những khả năng tồn tại của con người trong một thế giới mà những quyết định từ bên ngoài  trở thành nặng nề đến nỗi những động cơ bên trong chẳng còn chút trọng lượng nào nữa”.Kafka mô tả những động cơ thúc đẩy từ bên trong quyết định ứng xử của bản tính   con người  giuã cái thúc  ép của đời sống thực tế bên ngoài thành lực chi phối và luôn luôn giữ vai trò chủ chốt áp đảo trong mọi cách thế quyết định.

Riêng  chính Kundura thì cho rằng nhân vật tiểu thuyết là hiện thân cái gọi  là “ bản chất cục diện hiện sinh của cái tôi.”. Đây là một quá trình tìm kiếm  với tất cả những dụng công để khám phá ra những chân dung còn chìm khuất từ những bức màn che kín của sự vật.

Muốn nhập vào những trào lưu như vậy, nhà văn cần phải nỗ lực làm mới và rời bỏ con đường mô tả theo lề lối truyền thống với những chi tiết của nhân vật : tên tuổi, diện mạo bên ngoài, tiểu sử,, quá khứ, đời sống,…Tứ Joyce, Proust, Kafka, đến Kundura, tất cả những yếu tố trên về nhân vật chẳng còn là quan trọng nữa. Ngay chính những động tác để làm chuyển động  tiểu thuyết cũng không còn là chủ đích , mà cái còn lại là suy tư với những phóng chiếu luận  cứ phức tạp từ những góc cạnh nhiều chiều ,  nhiều phía để soi rọi vào cái  sâu thẳm của bản thể mình và  đời sống mình một cách thật rốt ráo triệt để không thỏa hiệp.

Sau khi lấy  những luận cứ  của Kundura làm căn bản, ông bạn trên đi đến một kết luận. Muốn đi vào những trào lưu văn học thế giới, phải từ bỏ chính cái tôi của nhân vật truyện. Chúng ta phải hủy bỏ chính cái vòng mà chúng ta tự vạch ra và tự giam mình vào. Chúng ta cứ quanh quẩn trong cái góc thế giới nhỏ nhoi mà không chịu bước ra những phương trời khoảng khoát hơn. Những   sự kiện của chúng ta hôm nay chỉ có giá trị ở thì hiện tại, nhưng ở thì tương lai thì chưa chắc. Cái xốc nổi chưa chắc là cái tồn tại lâu dài. Mà, muôn đời nhất để tồn tại vẫn là hành trình tự tìm kiếm chân dung con người, chân dung muôn thuở có chung một mẫu số của nhân bản nhưng có thể khác về tử số, của những hiện tương của bây giờ . Nhà văn phải có trí tưởng tượngvươt qua cái tôi  … Tại sao chúng ta cứ viết hoài  vềcái đã quen thuộc đã nhàm chán. Sao không thử bước qua đi những con đường lạ.Viết để làm gì nếu không có sự tìm tòi khám phá. Viết để làm gì, nếu  văn học không mang được những nét tích cực cho cuộc nhân sinh.

Tôi suy đi nghĩ lại , những điều Kundura viết   nó chung chung và hiện thực những ý tưởng ấy thành cụ thể không phải là đơn giản. .  Trong bụng vẫn  vương vấn  những suy nghĩ. Những điều kể trên có phải thuần từ lý luận  và có dễ áp dụng ở thực tế  Việt Nam không. Mà, thực hành thì ra sao.? Đi tìm chính mình, soi gương mỗi ngày ? Đúng quá rồi, nhưng diễn tả ra sao vì  cái thực và cái ảo có khi nhập nhằng thành một.  Đằng sau cái hình của mình có khi cón cái bóng nhiều khi to lớn hơn,  lộng lẫy hơn . Làm thơ tượng trưng, thơ phá cách, thơ cách tân,…để sáng tạo ? Đúng rồi , nhưng có chắc là tìm kiếm chân thực  mới lạ không hay là từ ngàn xưa đã có sẵn  ? Tôi chợt nghĩ đến hiên tượng “ tẩu hỏa nhập ma” mà Kim Dung hay mô tả. Chưa đủ nội lực mà cứ đòi tập tành thì  phế thải có ngày ! Làm thơ có vần chưa làm chủ được  vần điệu ngôn ngữ  mà đòi cách  tân, phá cách thì  thi  ca  trở thành dị hợm mấy hồi. Cái căn bản cần thiết phải có mới đủ sức làm sâu sắc hơn , làm mới lạ hơn văn chương. Thành ra, rút cuộc vẫn là sự tự rèn luyện và khó khăn nghiêm khắc với chính mình. Nhà văn Nguyễn Hiến Lê đã tự đặt một kỷ luật cho bản thân. Mỗi ngày , dù có cảm  hứng hay không cũng ngồi vào bàn làm việc . Lâu dần sẽ thành một  thói quen tốt đẹp. Và , với cách làm việc như thế, ông đã có một công trình trước tác đồ sộ. Riêng tôi khi theo học lớp sáng tác văn học  ở tại đại học ở đây cũng được chỉ dẫn rằng mỗi ngày phải viết  vài trang bằng ngôn ngữ mình và dịch vài trang từ những  tác phẩm  được kể là cổ điển  để tâp thành thói quen  trong công việc vận dụng chữ nghĩa để  . Cũng như đọc một cuốn sách nhiều lần, lần đầu để nắm bắt ý tưởng ,lần sau tóm lược và ghi chép lại thành từng thẻ  có thể hệ thống hóa . Tôi cố gắng theo nhưng hình như đời sống ở đây có quá nhiều thúc bách nên kỷ luật ấy cũng gần mai một đi. Nhưng ít ra tôi cũng tự hiểu đó là một phương thức tập luyện tốt….Kỹ thuật cũng rất cần tuy chưa đủ để tạo thành những tuyệt tác.Mà , nói đến kỹ thuật là nói đến những kinh nghiệm thu lượm được từ  quá trình làm việc qua sự vận động và tìm kiếm.

Nói theo lý thuyết một cách logically như vậy thì quá dễ. Làm sao để tiếp cận được vào văn học thế giới thực sự là một câu hỏi khó cho những người cầm bút. Vượt qua những giới hạn thực tế, nhiều khi  cần phải nỗ lực trong một đời sống nhiều thúc ép hiện nay.

Câu chuyện trong quán cà phê có phải là chuyện phiếm bàn chơi? Tại vì tôi quá nặng lòng với văn chương nên thắc mắc vương vấn mà thôi.  CHứ còn, ngày lại ngày, vòng quay đời sống dường như mỗi ngày bào mòn cả ước mơ. Với tôi, còn cầm bút được là vẫn còn một chút hạnh phúc nhỏ nhoi.  Viết để cho riêng mình có một thú vui , như mình nâng niu một đóa hoa , không phải là một điều thích ý sao ? Mỗi lần đọc những dòng chữ do chính mình viết ra, có phải là đang tâm sự với những người cùng tri kỷ.  Và, cũng chẳng để ý làm gì đến ít  hay nhiều mắt xanh để ý đến văn chương mình? Cái gì tốt đẹp tự nhiên sẽ tồn tại , cũng như những giả trá  bất toàn sẽ bị đào thải  theo  đúng luật đất trời!

Ở trong nước , câu hỏi  ;Tại sao viết ? Viết để làm gì ? và viết như thế nào ? cũng là  những vấn nạn thường xuyên  trên báo chí .

Nhà văn  Nguyên Ngọc  trong bài  phỏng vấn của Dã Tượng  đã phát biểu:

“ Vâng , nhà văn viết bằng cái gì ? Theo tôi có ba cái chính : tài năng “ trời cho”, sự trải nghiệm hay “ vốn sống” và cái thứ ba là nền tảng văn hóa dân tộc và nhân loại mà anh ta có được, anh ta “ đứng “ trên đó để tiếp tục đi tới… Lớp người trẻ cầm bút ở Việt nam hiện nay thiếu hụt hơn cả chính là  cái thứ ba này..” Và ông cho rằng sự thiếu thốn kể trên vì trong nước hiện nay không có Đại  Học thực sự với chất hàn lâm phải có . Nền đại  học hiện tại chỉ là những “ lớp phổ thông cấp bốn “ như lời giáo sư Hoàng Ngọc Hiến ví von. Và sau đó ông còn đề cập đến không có tự do sáng tác  tạo thành một nền văn học “ minh họa “ nông cạn , một chiều và là công cụ cho chính quyền.

 Chu Văn Sơn , trong “ Tác phẩm lớn , tại sao chưa?” thì phân tích :

“.. Không thiếu  những cây bút sau màn trình làng đầy ấn tượng hứa hẹn một triển vọng nào đấy nhưng rồi tài năng ban đầu   không cường  tráng  lên để thành  tài năng, trái lại,  cứ sa sút mai một dần . những cái ra sau chỉ là sự pha loãng cái ra trước , thậm chí loãng đến mức khó tin. Có người bi quan đã ngờ vực khôngb khéo  cái tạng chính của người viết  ở ta chỉ là “ nhà văn của cái đầu tay”.

Giải thích về hiện tượng sa sút phong độ sau những sáng tác đầu tay, người ta thường đề cập ba thiếu hụt quen thuộc  : vốn văn hóa , vốn sống và những kỹ năng sáng tạo . Vốn văn hóa  không chỉ là tri thức  về các bộ môn văn hóa  hay hiểu biết về các nền văn hóa bốn phương  , mà quan trọng hơn là cái  lõi nhân văn của kẻ viết  có đầy đặn hay chưa  sau khi hấp thụ những tinh hoa  văn hóa khắp nơi ấy.  Vốn sống cũng không phải là những tri thức cuộc sống  đã được nạp đầy hay vơi trong túi khôn của kẻ viết, mà đáng nói hơn là vốn ấn tượng , vốn trải nghiệm  cật ruột của chủ thể sáng tạo  trong trường đời  đã đủ giúp anh hóa thân vào mọi nỗi đời chưa. Cũng như thế kỹ năng sáng tạo  đâu chỉ đơn giản là những  chiêu mới chiêu lạ  chiêu độc tích cóp  được từ việc học  những trường phái tân kỳ  hay các bậc thầy  đến từ phương xa . Mà quyết định  hơn là mọi thao tác kỹ năng  đã ngấm vào thành ứng xử nghệ thuật  thành giác quan của người viết hay chưa. Chúng ta thường khuyến cáo  người viết hãy bồi đắp  cho những thứ ấy  đầy đặn lên, vạm vỡ hơn. Không thể chối cãi được rằng  nội lực của người viết phụ thuộc rất nhiều vào sự dồi dào của ba yếu tố ấy. Chưa có một nội lực như vậy , thật khó  hy vọng về tác phẩm thật sự lớn…”

 Cũng có người  thì lại quan niệm nghe ra hơi ngang tai nhưng không phải là không lý do trong thực trạng văn học trong nước hiện nay. Như lời phát biểu của Nguyễn Đình Chính, con ruột nhà văn Nguyễn Đình Thi  và là tác giả của  tiểu thuyết “ Đêm Thánh Nhân”, cũng như đã có ý định muốn ra khỏi Hôi Nhà Văn Việt Nam:

“Tôi biết rằng nhà văn thì nên đứng ra ngoài lề xã hội , ngậm miệng ăn tiền  ngồi quay mặt vào vách tường mà viết văn thì mới là nhà văn lớn , mới là khôn ngoan , biết điều. Nói nhiều là ngu. Càng nói càng dại . Có lẽ tôi đang là một ví dụ cụ thể . Nhưng đã hỏi thì tôi xin có nhời. Đất nước đang tiến vào vận hội  mới Toàn dân tộc đã thoát ra khỏi cơn ngái ngủ bao cấp , ỷ lại rồi. Thú thực nhé, là một người trong cuộc mà tôi cũng chẳng hiểu văn nghệ Việt Nam hôm nay đã chạy thoát ra khỏi cơn ngái ngủ bao cấp đó chưa?

Viết để sống . Sống để viết . Hình như ở bất cứ không gian thời gian nào cũng là hai vế của một phương trình . Có lúc tưởng đối nghịch nhau nhưng tựu trung vẫn là một. Dù ở trong nước hay hải ngoại,  dù thời gian cách nay cả thế kỷ cho đến bây giờ,  viết vẫn là do bức xúc từ đời sống. Sống đeo đẳng cái nghiệp viết . Và viết để làm đời sống có ý nghĩa hơn. Văn chương ,  có khi là  duyên phận , là những tình cờ , của những phút giây “ bắt được của trời”. Thực ra , để trở thành một nhà văn Việt Nam thường thường đã khó, huống chi còn đòi tác giả lớn , tác phẩm lớn.  Ở trong nước , thì giáo dục hạn chế ,  đại học chỉ là bậc trung học  nối dài , triết học căn bản không có  vì thay thế bằng học thuyết Mác Lênin. Ở hải ngoại , thì tiếp cận được với căn học thế  giới nhưng  ít độc giả và tất cả nỗ lực văn chương  đều dồn vào  trên vai  cá nhân những người cầm bút cô đơn .  Nhà văn ,  chỉ có thể cầm bút được nếu không ở tâm trạng phải viết vì quá nhiều điều chất chứa từ cuộc sống phải bộc lộ , phải nói ra.  Cầm bút , chính là một phương cách để tự giải phóng mình…