Saigon Times


Menu



Đài Tưởng Niệm

Thuyền Nhân

Việt Nam

Tiếp Theo...

* CẦU NGUYỆN VÀ TƯỞNG NIỆM NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM 2016 TẠI NAM CALI


* 40 NĂM QUỐC HẬN LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN, BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* 30 THÁNG TƯ, TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* BI SỬ THUYỀN NHÂN (Nguyễn Quốc Cường)


* BIỂN ĐÔNG LỤC BÌNH TRÔI


* CÁI GIÁ CỦA TỰ DO


* CÁNH BÈO BIỂN CẢ (Văn Qui)


* CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ CON TÀU MANG SỐ MT065


* CẦU SIÊU BẠT ĐỘ TẠI ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM WESTMINSTER


* CHUYỆN KỂ HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG (Nhiều Tác Giả)


* CHỨNG TÍCH ĐỂ ĐỜI: ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* CHUYẾN VƯỢT BIÊN ĐẪM MÁU (Mai Phúc)


* CHUYẾN VƯỢT BIỂN HÃI HÙNG


* CON ĐƯỜNG TÌM TỰ DO (Trần Văn Khanh)


* CÒN NHỚ HAY QUÊN (Nguyễn Tam Giang)


* DẠ TIỆC VĂN NGHỆ "LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG" THÀNH CÔNG NGOÀI DỰ KIẾN CỦA BAN TỔ CHỨC


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Việt Hải)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TẠI QUẬN CAM (Vi Anh)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM: BIỂU TƯỢNG THIÊNG LIÊNG CỦA NIỀM KHÁT VỌNG TỰ DO VÀ NHÂN QUYỀN


* ĐÊM DÀI VÔ TẬN (Lê Thị Bạch Loan)


* ĐI VỀ ĐÂU (Hoàng Thị Kim Chi)


* GALANG: BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM BỊ PHÁ BỎ


* GALANG MỘT THỜI - MỘT ĐỜI (Nguyễn Mạnh Trinh)


* GIÁNG NGỌC PHỎNG VẤN NHÀ THƠ THÁI TÚ HẠP VÀ NỮ SĨ ÁI CẦM VỀ LỄ KHÁNH THÀNH ĐTNTNVN


* GIỌT NƯỚC MẮT CHO NGƯỜI TÌM TỰ DO (Lê Đinh Hùng)


* HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT


*"HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG: TỰ DO, MỘT NHU CẦU THIẾT YẾU, ĐÁNG ĐỂ TA ĐI TÌM"


*HÀNH TRÌNH GIAN NAN TÌM TỰ DO  


* HÀNH TRÌNH TÌM CON NƠI BIỂN ĐÔNG


* HÌNH ẢNH MỚI NHẤT CHUẨN BỊ KHÁNH THÀNH VÀO THÁNG 04-2009


* HÒN ĐẢO BỊ LÃNG QUÊN (Meng Yew Choong)


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ VINH DANH ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ WESTMINSTER THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT “NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM”


* KHÁNH THÀNH ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI NAM CALI


* KHẮC TÊN TRÊN BIA TƯỞNG NIỆM (Việt Hải)


* LÀN SÓNG THUYỀN NHÂN MỚI


* LỄ ĐỘNG THỔ KHỞI CÔNG XÂY DỰNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* LỄ KHÁNH THÀNH TRỌNG THỂ ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI QUẬN CAM


* LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TỔ CHỨC TRANG NGHIÊM TẠI NGHĨA TRANG WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* LÒNG NHÂN ÁI (Tâm Hồng)


* LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG (Thơ Thái Tú Hạp)


* MEMORIAL TO BOAT PEOPLE WHO DIED TO BE DEDICATED SATURDAY


* MỘT CÁI GIÁ CỦA TỰ DO (Trần Văn Hương)


* MƠ ƯỚC "MỘT NGÀY TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN" ĐÃ TRỞ THÀNH SỰ THẬT


* NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM THỨ 5


* "NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM" TỔ CHỨC TRỌNG THỂ TẠI WESTMINSTER


* NGƯỜI PHỤ NỮ SỐNG SÓT SAU CHUYẾN VƯỢT BIỂN KINH HOÀNG


* NHỮNG CHUYỆN HÃI HÙNG CỦA THUYỀN NHÂN (Biệt Hải)


* NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT ĐỀU CÓ THẬT (Ngô Dân Dụng)


* NHỮNG THÁNG NGÀY YÊU DẤU NƠI HOANG ĐẢO (Tuấn Huy)


* NỖI BẤT HẠNH ĐỜI TÔI (Thùy Yên) 


* NỖI KHỔ CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Thy Vũ Thảo Uyên)


* NƯỚC MẮT CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Nguyễn Mỹ Linh)


* SAIGON TIMES PHỎNG VẤN MỤC SƯ HÀ JIMMY CILLPAM 4 NĂM CÓ MẶT TRÊN TÀU AKUNA CỨU HƠN 5000 NGƯỜI VIỆT NAM VƯỢT BIỂN TÌM TỰ DO TRÊN BIỂN ĐÔNG


* TÀU SẮT BẾN TRE (Tú Minh)


* THẢM KỊCH BIỂN ĐÔNG (Vũ Duy Thái)


* THẢM SÁT TRÊN ĐẢO TRƯỜNG SA


* THỊ XÃ WESTMINSTER VINH DANH TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN


* THÔNG BÁO CỦA ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VN


* THƠ LÀM KHI ĐỌC TIN THUYỀN NHÂN (Viên Linh)


* THUYỀN NHÂN: ẤN TÍCH LỊCH SỬ


* THUYỀN NHÂN VÀ BIỂN ĐỘNG


* THUYỀN NHÂN VÀ MỘT VÀI HÌNH ẢNH CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN


* THUYỀN NHÂN VIỆT NAM VƯỢT BIÊN, TỬ NẠN, ĐẾN BỜ TỰ DO ĐÃ GIÚP NHÂN LOẠI NHÌN RÕ ĐƯỢC CHÂN TƯỚNG CỦA CỘNG SẢN (Lý Đại Nguyên)


* TRÔI GIẠT VỀ ĐÂU (Nguyễn Hoàng Hôn)


* TRỞ VỀ ĐẢO XƯA... (Nguyễn Công Chính)


* TỪ TẤM BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN Ở GALANG NHÌN RA CON ĐƯỜNG HÒA GIẢI


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN VIỆT NAM ĐÃ CHÍNH THỨC ĐƯA VÀO WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN ĐÃ ĐƯỢC ĐẶT VÀO VỊ TRÍ AN VỊ TRONG KHUÔN VIÊN WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30-4-2012

* VĂN TẾ THUYỀN BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* VƯỢT BIỂN (Thanh Thanh)


* VƯỢT BIỂN MỘT MÌNH (Nguyễn Trần Diệu Hương)


* XIN VỀ ĐÂY CHỨNG GIÁM, AN GIẤC NGÀN THU


* XÓA DẤU VẾT TỘI ÁC (Phạm Phú Minh)


 Saigon Times USA

 

 

NGHĨ VỀ BÍCH KHÊ

 

KHỔNG ĐỨC

 

 

Nếu trong thơ Hàn Mặc Tử hay đề cập đến Trăng, thì Bích Khê lại hay nói đến Thu, mùa Thu:

Trăng gây vàng, vàng gây lên sắc trắng

Của hồn thu đi lạc ở trong mơ

(Mộng cầm ca)

Mây nhung pha màu thu trên trời

Sương lam phơi màu thu muôn nơi

(Tỳ Bà)

Đêm nay hồn lặng làm sao

Cánh thu ôm cả chiêm bao vào lòng

(Cuối thu)

Ô ! Mộng đêm thu mây vút xa

Say sưa ộ sắc cạnh đào hoa

(Mộng)

Mùa thu ám ảnh nhà thi sĩ

Muốn thổi tiêu vàng giữa khói sương...

(Nấm mộ)

Thu đã ám ảnh thi sĩ nên nó đầy dẫy trong Tinh Huyết và Tinh Hoa. Anh cũng từng có bút hiệu là Lê Mộng Thu. Phải chăng vì địa danh Thu Xà là nơi sinh trưởng Bích Khê mà cũng là chốn an nghỉ cuối cùng của anh, miền đất quê hương đã in đậm nét trong thơ anh:

Nơi đây làng cũ buồn hiu quạnh (làng em)

Phố phường hai dãy đứng trơ trơ (Thu Xà cảm tác)

Nặng lòng với quê hương ư ? Thì cũng đúng, nhưng còn hơn thế nữa kìa, vì theo các nhà “tâm lý học miền sâu” (Psychologie des profondeurs), đó là hiện tượng con người luôn luôn muốn trở về nguồn (besoin de retour au sein maternel). Quê hương hay đất mẹ cũng là mẹ đó thôi. Một hình ảnh khắc sâu trong tâm khảm con người của nghìn đời trước và nghìn đời sau. Nó thể hiện bằng những hình ảnh tượng trưng, nó biến thái, nó thăng hoa khó nhận ra đấy, nó cũng mang dấu ấn tình cảm, cảm xúc... Bích Khê là nhà thơ, hẳn nhạy cảm hơn ai hết thì tên địa danh quê hương làm sao không nặng trĩu trong lòng để biến hình thành Thu, như Thu với nắng, trăng ngọc, kim cương sao...

Thu Xà là một thị trấn nhỏ thuộc huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Nghĩa. Nhưng Thu Xà là gì? Căn cứ theo bộ địa bạ ghi chép từ năm Gia Long thứ 12 (1814) thì Thu Xà vốn là xã Tăng Sai nghĩa là đánh cá bằng bè lưới, nôm na là bè rớ. Thời Gia Long, Minh Mạng làng này dân cư thưa thớt, nhưng đến đầu thế kỷ 20 đã có người Hoa Kiều đến ở và buôn bán rất phồn thịnh, dân cư trở nên đông đúc. Có thể người Hoa đến ở thấy chữ Tăng Sai không mấy đẹp nên đã đổi thành Thu Sai, Sai cũng đọc là Sài. Hay là tên làng đã được đổi thay từ đời Tự Đức, nên trong Đại Nam Nhất Thống Chí được biên soạn trong thời này đã viết tên làng là Thu Sài, người Hoa phát âm là Thu Sà rồi thường dân gọi Thu Xà thành thói quen.

Thu Xà nằm bên bờ sông gần cửa biển tiện cho việc thuyền bè đi lại cả đường sông lẫn đường biển. Nó cách Cổ Lũy một dòng sông, là một trong những thắng cảnh của Quảng Nghĩa “Cổ Lũy Cô Thôn”. Cửa biển là cửa Đại, nơi sông Trà Khúc và sông Vệ gặp nhau nên lòng sông khá rộng và sâu. Từ Thu Xà ra biển chỉ vào khoảng 2 cây số, phía nam Thu Xà có Vực Hồng, nơi dòng sông Vệ đổ về xoi sâu vùng đất đỏ thành bờ cao trong rất hùng vĩ. Đối chọi với Vực Hồng là Phú Thọ ở phía Bắc có núi đá đen khá uy nghi. Qua dải sông sâu là Cổ Lũy nằm sát bên bờ biển chơ vơ với đám rừng dừa cao ngút nghiêng mình bên mé nước trong xanh, cũng là nơi thuyền bè ra vào với những cánh buồm trắng xóa hay chen chúc nhau đậu bên bờ. Sớm chiều ánh nắng vàng êm dịu trải lên màu xanh đậm của nước, của cát trắng, của ruộng đồng lúa mía, của những mảnh đất nơi đây đỏ nơi đây vàng pha lẫn với đá đen, cùng với những mái nhà xám màu tranh tre hay gạch ngói đỏ. Nói chung cảnh trí Thu Xà và các vùng lân cận là một bức tranh hài hòa dễ khơi động hồn thơ hơn đâu hết; nên không lạ nơi sinh trưởng ra Bích Khê. Và rồi miền đất nước có sông sâu biển rộng núi cao này ảnh hưởng đến đời thơ anh không phải là ít. Điều đó quá rõ là thiên tài Bích Khê phát triển quá sớm, mới 12, 13 tuổi đã biết làm thơ Đường, đến 15, 16 tuổi đã có thơ đăng báo và xướng họa với những vị lão nho.

Thế nhưng tại sao Bích Khê đến với thơ mới quá muộn? Mãi đến năm 1937 anh mới tuyệt giao với thơ cũ và gia nhập vào làng thơ mới. Phải chăng vì những lý do sau đây:

Bích Khê là con trai út trong gia đình có truyền thống cách mệnh, ông cha đã từng tham gia các phong trào yêu nước. Thơ anh đăng trên báo Tiếng Dân, Phụ Nữ Tân Văn v.v...cũng là thơ yêu nước. Anh lại chịu ảnh hưởng của cụ Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng khá nặng nên có thành kiến với thơ mới:

Rồng vẽ lối xưa toàn những sáo

Cua bò thơ mới chả nên câu.

Chính nhà thơ lão thành Khương Hữu Dụng cũng từng tâm sự với chúng tôi là do ảnh hưởng của cụ Phan quá nặng mà thơ anh đắm trong tinh thần yêu nước, không thoát xác để đi vào thơ mới sớm hơn. Đó là chưa kể dân tình, dân khí Quảng Nghĩa luôn luôn có máu cách mạng, ưa bạo động. Quảng Nghĩa cũng là đất Chiêm Thành xưa, mà Quảng Nam, Bình Định cho đến bây giờ vẫn còn ít nhiều di tích của Chàm, những cổ tháp cao ngạo nghễ với trời xanh. Trong khi đó ở Quảng Nghĩa đã từ lâu chẳng còn dấu vết gì của Chiêm Thành, nếu còn chăng chỉ là những viên gạch to tướng thỉnh thoảng gặp nơi các cánh đồng. Do đó kể từ phong trào Văn Thận, Duy Tân, Đông Du ... lúc nào cũng sôi nổi ồ ạt, làm sao không lay động đến tâm hồn Bích Khê. Những sự kiện vừa nêu là những dây xích cột chặt anh trong trường phái cổ điển Đường Luật dù anh là người học Tây. Cũng nên kể thêm rằng từ sau 1936, hoàn cảnh đất nước và dân tộc Việt Nam rõ ràng rơi vào ngõ bí thoái trào trầm trọng. Tâm trạng “Bán sầu”, “Bán thơ” (đầu đề bài Hát nói của Bích Khê) là có thật; cũng là tâm trạng mất định hướng của thanh niên Việt Nam lúc bấy giờ.

Nên khi gặp và đọc thơ Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên thì Bích Khê như người chụp được phao cứu mệnh, tìm được sự giải thoát cho chính mình. Gia nhập vào làng thơ mới tức là gia nhập vào trào lưu lãng mạn. Xin đừng hiểu nghĩa từ lãng mạn theo thông tục lâu nay là xấu xa, mà phải hiểu theo tinh thần chính thống của Tây Phương. Nó là hiện tượng chống lại chủ nghĩa quý tộc mà sinh ra chủ nghĩa bình dân, chống lại chủ nghĩa hình thức mà sinh ra chủ nghĩa tự do, nó chối bỏ cái thế giới thực xấu xa bỉ ổi mà hướng về cội nguồn, một địa đàng xa xôi, nôm na là mơ về một thế giới lý tưởng. Ánh sáng văn học thế giới cận đại mở đầu là do chủ nghĩa của phái lãng mạn.

Vừa gia nhập làng thơ mới tại sao Bích Khê lại xông vào trường phái tượng trưng? Có người cho là do ảnh hưởng của Hàn Mặc Tử, cũng đúng một phần, nhưng chưa phải là lý do duy nhất. Ý thức chuyển hướng vào thơ mới từ năm 1937, cũng là giai đoạn thơ mới đã hình thành và có thể đứng vững vàng; vì đã có nhiều tác phẩm ra đời, và có bao nhiêu người xứng danh là thi sĩ. Với cách mạng Chế Lan Viên đã từng tỉ tê “Đi xa về quá chậm”, nhưng trong văn học đối với Bích Khê phải đổi lại là “Về chậm phải đi xa”. Hơn nữa, đến năm 1937 chiếu làng thơ mới với trường phái lãng mạn đã chật chỗ vì các nhà thơ Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, Thanh Tịnh v.v...và còn một lý do chính yếu là Bích Khê có thừa khả năng tiếp xúc với các trào lưu văn học thi ca Pháp, thì trường phái tượng trưng vốn có tính chất canh tân cách mạng quá hợp với anh. Có thể nói đó là mảnh đất tốt để cho hạt giống tài năng Bích Khê ấp ủ lâu nay được cơ hội gieo trồng phát triển:

Tượng trưng vầy cao đẹp

Chỗ chính phẩm văn chương

(Ngũ Hành Sơn - hậu)

Vậy thơ tượng trưng là gì? Nôm na nó là một phong trào tân lãng mạn của Pháp phát sinh từ cuối thế kỷ 19, do các thi nhân thiên tài dẫn đầu là Rimbaud, Verlaine, Mallarmé... Thơ với họ là tiếng nói của vô thức, là đào sâu vào tự ngã, nhắm tìm kiếm một ý tưởng siêu việt, một nguyên tố thâm sâu của vũ trụ, cũng gọi là bản thể, là thực tại hay cuộc sống nội tâm:

Ôi sắc đẹp, anh hoa hồn vũ trụ

Phấn Trang sinh : tính chất khí âm dương

Mi làm long phím lòng muôn trinh nữ

Muôn tài hoa nghiêng nước vẻ thiên hương

Mi rớt ngọc cho vang muôn tinh tú

Mi nhả sâm ngọt lịm vạn sầu thương

(Đồ mi hoa)

Nó mang tính chất siêu hình, hay đúng hơn nó quan niệm rằng: sáng tác thi ca là đi tìm một tri thức bí nhiệm, thi nhân là kẻ giúp ta khám phá những gì ta chưa bao giờ nhìn thấy, cảm biết:

Hỡi trần gian hãy chết ngột trăng sao

Cho nhân lý ngời ra như lưỡi kiếm

Và hào quang khiêu vũ với hào quang

(Nàng bước tới)

Do đó họ phải mượn các hiện tượng vật chất để diễn tả cái tâm linh nội tại, nó có khuynh hướng chủ quan thần bí, nó dùng ẩn dụ, ám thị làm ấn tượng diễn tả. Nó ỷ lại vào âm nhạc để diễn tả tâm linh huyền diệu của con người, nên phần lớn phải vận dụng hình ảnh, và cũng vì nhiều khó khăn đó, nó phải phối hợp hội họa, điêu khắc kiến trúc, vũ khúc, nói chung là vận dụng các cảm xúc hương vị, âm thanh, màu sắc... để nói lên cái điều không sao nói được. Muốn đạt đến cảnh giới đó nhà thơ phải trực cảm hay sống bằng trực giác:

Chữ biến hình ảnh mới, lúc trong ngâm

Chữ điêu khắc tỉa nghệ thuật sầu câm

Đây thẩm mỹ như một pho thần tượng

Múa song song khiêu vũ với đêm hồng

(Duy Tân)

Sự kiện ấy có vẻ mới lạ với Tây Phương, nhưng đối với văn học Đông Phương thì lại là chuyện cũ. Vì từ Kinh Thi, Sở Từ, Nam Hoa Kinh cho đến thi ca Đường Tống... đều mang tính chất tượng trưng. Có điều họ không nói tượng trưng mà lại nói là Ngộ, là Thiền, là Thần Vận, Tính Linh v.v... Vì vậy không lạ gì Bích Khê đến với thơ mới bằng con đường tượng trưng. Thoạt nhìn cứ ngỡ là anh bị ảnh hưởng trực tiếp trường phái tượng trưng Pháp, nhưng có đi sâu vào thơ anh mới thấy anh chỉ mượn cái xác của Tây để rồi tái sinh bằng cái hồn, cái sống của tinh thần Đông Phương hay của Việt Nam có lẽ đúng hơn:

Hạt châu trong ngời nhỏ giọt vô lòng

Tràn âm hưởng như chiều thu sóng nắng

(Duy Tân)

Buồn lưu cây đào xin hơi xuân

Buồn sang cây tùng thăm Đông quân

(Tỳ Bà)

Tinh thần Đông Phương ấy thể hiện đầy dẫy trong Tinh Huyết, nói chi đến Tinh Hoa thì hoàn toàn là thứ tượng trưng thuần Đông, thuần Việt, và cũng vì vậy nó mang tính chất là thơ Thuần túy hơn tượng trưng, tiêu biểu là hai bài Ngũ Hành Sơn. Xin miễn trích dẫn dài dòng để còn được đề cập đến một điểm nữa là khả năng lao động thơ của Bích Khê, mà trước đây ít người nói đến,

Trong vòng chỉ có ba tháng mà hoàn thành tác phẩm thơ như Tinh Huyết, dù không vĩ đại cũng phải nói là một kỳ công. Và tác dụng của nó như một quả bom nổ giữa làng thơ Việt, khiến ai cũng ngạc nhiên, Hàn Mặc Tử đã trân trọng giới thiệu với sự ca tụng hết lời.

 

Đã hay sáng tác cần phải có thiên tài, nhưng thiên tài không chưa đủ để thành tác phẩm mà còn phải có nhân lực.

Đến như Newton còn phải nói: thiên tài chỉ là sự nhẫn nại kham khổ lâu dài. Trong địa hạt văn học phần nhân lực lại còn quan trọng hơn. Câu chuyện một bước thành thơ hay uống một đấu rượu hoàn thành trăm bài thơ khó mà có thật, hay nếu có cũng chỉ là tình cờ cọng với bao nhiêu công phu tu dưỡng từ trước mà thôi. Hẳn ai cũng biết muốn thành thơ là phải có cảm hứng (inspiration), đúng ra phải gọi đó là nguồn linh cảm, nó thường bột phát ngoài ý liệu của tác giả nên thành tựu rất mau. Người xưa cho đó là sự khai thị của thần linh, nhưng theo các nhà tâm lý học hiện đại thì linh cảm là những gì đã được thai nghén uẩn nhưỡng trong tâm tư rồi đột nhiên hiện ra đấy thôi. Hiện tượng thai nghén phải có thời gian để cho tiềm thức hoạt động, đến khi nào ý thức buông xả là lúc ý tưởng hình ảnh dễ dàng xuất hiện. Ý thức buông xả là trực giác thì chữ thơ tuôn trào, thế nhưng chưa phải là tác phẩm đã hoàn thành, chẳng qua chỉ mới là những phác thảo như đứa trẻ sơ sinh vừa lọt lòng mẹ, còn phải gỡ nhau, cắt rún, tắm rửa, nuôi dưỡng v.v... rồi mới ra người. Nói rõ là còn phải tôi luyện sửa chữa càng nhiều bấy nhiêu. Loại thơ bình thường còn phải thế, huống chi là nhà thơ có tầm vóc thì khi sáng tạo một phác thảo rồi sau đó phải tính toán tỉ mỉ như nhà luyện kim thuật, nhà toán học, kiến trúc sư, chữ thơ phải được cân nhắc, nghĩa thông dụng, nghĩa ngữ học, nghĩa ẩn tàng và những hình ảnh đưa ra phải mới lạ, lại còn phải chú trọng đến âm điệu chất nhạc...

Trăng có đôi : rưng rưng ánh ngọc

Mùa rất cao : đẹp xuống anh hoa

(Lên Kim Tinh)

Nàng bước tới như sông trăng chảy ngọc

Như nắng thơm hớp đặc cả nguồn hương

(Nàng bước tới)

Nhìn chung là công việc rất nhiêu khê, thế mà thay vì hứa hẹn sáu tháng, chỉ trong ba tháng Bích Khê đã hoàn thành tập Tinh Huyết với số lượng 50 bài, mà bài có ngắn đâu. Thật đúng như tên tác phẩm, nó là máu lệ, tinh tủy của tác giả cơ hồ như đã trút hết vào đó. Tiếc rằng hằng ngày chúng ta chẳng còn một bản thảo nào của Bích Khê, tuy nhiên cứ nhìn vào tác phẩm, hay chịu khó đọc lại toàn bộ tác phẩm của Bích Khê, hẳn cũng thấy được anh đã phải làm việc như thế nào... Đã hay trong Tinh Huyết cũng còn những khuyết điểm, nhưng cũng chỉ là sơ sót nhỏ. Trong thời điểm 1939 và cho đến ngày nay nữa tập thơ Tinh Huyết vẫn là một kỳ công. Phải chăng vì dốc hết tâm lực, hay nói theo danh từ ngày nay Bích Khê đã lao động quá mức, nên đã hoàn thành được Tinh Huyết thì anh cũng ngã bệnh lao. Thật là một đời đã cống hiến và dâng trọn cho nghệ thuật. Tinh Hoa là tác phẩm của cơn bệnh đã đi vào giai đoạn trầm kha.

Có một điều hơi lạ, là ngày rời khỏi cõi thế để đi về chốn vĩnh hằng của Bích Khê sao giống hệt Rimbaud, là cả hai cũng thấy trước giây phút ra đi của mình, cũng dọn mình, cũng sửa soạn cho một cuộc hành trình bất tử. Thật là :

Châu vỡ thiên tài lai láng cả

Chết rồi khí phách của tôi đâu ?

Khí phách đó gởi trọn trong Tinh Huyết, Tinh Hoa hay phó thác hết cho hậu thế chúng ta.