SG1


Menu



Đài Tưởng Niệm

Thuyền Nhân

Việt Nam

Tiếp Theo...

* CẦU NGUYỆN VÀ TƯỞNG NIỆM NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM 2016 TẠI NAM CALI


* 40 NĂM QUỐC HẬN LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN, BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* 30 THÁNG TƯ, TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* BI SỬ THUYỀN NHÂN (Nguyễn Quốc Cường)


* BIỂN ĐÔNG LỤC BÌNH TRÔI


* CÁI GIÁ CỦA TỰ DO


* CÁNH BÈO BIỂN CẢ (Văn Qui)


* CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ CON TÀU MANG SỐ MT065


* CẦU SIÊU BẠT ĐỘ TẠI ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM WESTMINSTER


* CHUYỆN KỂ HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG (Nhiều Tác Giả)


* CHỨNG TÍCH ĐỂ ĐỜI: ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* CHUYẾN VƯỢT BIÊN ĐẪM MÁU (Mai Phúc)


* CHUYẾN VƯỢT BIỂN HÃI HÙNG


* CON ĐƯỜNG TÌM TỰ DO (Trần Văn Khanh)


* CÒN NHỚ HAY QUÊN (Nguyễn Tam Giang)


* DẠ TIỆC VĂN NGHỆ "LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG" THÀNH CÔNG NGOÀI DỰ KIẾN CỦA BAN TỔ CHỨC


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Việt Hải)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TẠI QUẬN CAM (Vi Anh)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM: BIỂU TƯỢNG THIÊNG LIÊNG CỦA NIỀM KHÁT VỌNG TỰ DO VÀ NHÂN QUYỀN


* ĐÊM DÀI VÔ TẬN (Lê Thị Bạch Loan)


* ĐI VỀ ĐÂU (Hoàng Thị Kim Chi)


* GALANG: BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM BỊ PHÁ BỎ


* GALANG MỘT THỜI - MỘT ĐỜI (Nguyễn Mạnh Trinh)


* GIÁNG NGỌC PHỎNG VẤN NHÀ THƠ THÁI TÚ HẠP VÀ NỮ SĨ ÁI CẦM VỀ LỄ KHÁNH THÀNH ĐTNTNVN


* GIỌT NƯỚC MẮT CHO NGƯỜI TÌM TỰ DO (Lê Đinh Hùng)


* HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT


*"HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG: TỰ DO, MỘT NHU CẦU THIẾT YẾU, ĐÁNG ĐỂ TA ĐI TÌM"


*HÀNH TRÌNH GIAN NAN TÌM TỰ DO  


* HÀNH TRÌNH TÌM CON NƠI BIỂN ĐÔNG


* HÌNH ẢNH MỚI NHẤT CHUẨN BỊ KHÁNH THÀNH VÀO THÁNG 04-2009


* HÒN ĐẢO BỊ LÃNG QUÊN (Meng Yew Choong)


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ VINH DANH ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ WESTMINSTER THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT “NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM”


* KHÁNH THÀNH ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI NAM CALI


* KHẮC TÊN TRÊN BIA TƯỞNG NIỆM (Việt Hải)


* LÀN SÓNG THUYỀN NHÂN MỚI


* LỄ ĐỘNG THỔ KHỞI CÔNG XÂY DỰNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* LỄ KHÁNH THÀNH TRỌNG THỂ ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI QUẬN CAM


* LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TỔ CHỨC TRANG NGHIÊM TẠI NGHĨA TRANG WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* LÒNG NHÂN ÁI (Tâm Hồng)


* LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG (Thơ Thái Tú Hạp)


* MEMORIAL TO BOAT PEOPLE WHO DIED TO BE DEDICATED SATURDAY


* MỘT CÁI GIÁ CỦA TỰ DO (Trần Văn Hương)


* MƠ ƯỚC "MỘT NGÀY TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN" ĐÃ TRỞ THÀNH SỰ THẬT


* NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM THỨ 5


* "NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM" TỔ CHỨC TRỌNG THỂ TẠI WESTMINSTER


* NGƯỜI PHỤ NỮ SỐNG SÓT SAU CHUYẾN VƯỢT BIỂN KINH HOÀNG


* NHỮNG CHUYỆN HÃI HÙNG CỦA THUYỀN NHÂN (Biệt Hải)


* NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT ĐỀU CÓ THẬT (Ngô Dân Dụng)


* NHỮNG THÁNG NGÀY YÊU DẤU NƠI HOANG ĐẢO (Tuấn Huy)


* NỖI BẤT HẠNH ĐỜI TÔI (Thùy Yên) 


* NỖI KHỔ CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Thy Vũ Thảo Uyên)


* NƯỚC MẮT CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Nguyễn Mỹ Linh)


* SAIGON TIMES PHỎNG VẤN MỤC SƯ HÀ JIMMY CILLPAM 4 NĂM CÓ MẶT TRÊN TÀU AKUNA CỨU HƠN 5000 NGƯỜI VIỆT NAM VƯỢT BIỂN TÌM TỰ DO TRÊN BIỂN ĐÔNG


* TÀU SẮT BẾN TRE (Tú Minh)


* THẢM KỊCH BIỂN ĐÔNG (Vũ Duy Thái)


* THẢM SÁT TRÊN ĐẢO TRƯỜNG SA


* THỊ XÃ WESTMINSTER VINH DANH TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN


* THÔNG BÁO CỦA ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VN


* THƠ LÀM KHI ĐỌC TIN THUYỀN NHÂN (Viên Linh)


* THUYỀN NHÂN: ẤN TÍCH LỊCH SỬ


* THUYỀN NHÂN VÀ BIỂN ĐỘNG


* THUYỀN NHÂN VÀ MỘT VÀI HÌNH ẢNH CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN


* THUYỀN NHÂN VIỆT NAM VƯỢT BIÊN, TỬ NẠN, ĐẾN BỜ TỰ DO ĐÃ GIÚP NHÂN LOẠI NHÌN RÕ ĐƯỢC CHÂN TƯỚNG CỦA CỘNG SẢN (Lý Đại Nguyên)


* TRÔI GIẠT VỀ ĐÂU (Nguyễn Hoàng Hôn)


* TRỞ VỀ ĐẢO XƯA... (Nguyễn Công Chính)


* TỪ TẤM BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN Ở GALANG NHÌN RA CON ĐƯỜNG HÒA GIẢI


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN VIỆT NAM ĐÃ CHÍNH THỨC ĐƯA VÀO WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN ĐÃ ĐƯỢC ĐẶT VÀO VỊ TRÍ AN VỊ TRONG KHUÔN VIÊN WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30-4-2012

* VĂN TẾ THUYỀN BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* VƯỢT BIỂN (Thanh Thanh)


* VƯỢT BIỂN MỘT MÌNH (Nguyễn Trần Diệu Hương)


* XIN VỀ ĐÂY CHỨNG GIÁM, AN GIẤC NGÀN THU


* XÓA DẤU VẾT TỘI ÁC (Phạm Phú Minh)


 Saigon Times USA

 

 

NGHE NẶNG TỪ

TÂM LƯỢNG ĐẤT TRỜI

 

THÁI TÚ HẠP

 

 

Cho đến buổi chiều, khi chiếc trực thăng đổ quân xuống bên kia bờ Phá Tam Giang, chúng tôi mới chợt khám phá những lời thơ trong nhạc phẩm quen thuộc “CHIỀU TRÊN PHÁ TAM GIANG” của Tô Thùy Yên do nhạc sĩ Trần Thiện Thanh phổ thành ca khúc, có nhiều câu hay và hợp tình với cảnh ngộ chúng tôi lúc bấy giờ... Giữa những tràng đại pháo bắn vào mục tiêu và đơn vị Thủy Quân Lục Chiến đang chuẩn bị tiến vào Cổ Thành Quảng Trị.  Người lính vẫn điềm nhiên kiêu hùng lãng mạn:

 

... Chiều trên phá Tam Giang

Anh chợt nhớ em, nhớ bất tận...

Giờ này có thể trời đang nắng

Em rời thư viện đi rong chơi

Dưới hai hàng cây thẳng im ngủ...

 

Ở thành thị không khí chiến tranh chưa bị ô nhiễm, những người con gái có người yêu ngoài trận mạc chỉ thoảng chút lo âu, khắc khoải, đợi chờ. Người lính vẫn nhớ tới em, nhớ tới cuộc tình hẹn hò đầy thơ mộng:

 

Giờ này có thể trời đang mưa

Em đi sát hàng hiên sướt mướt

Nhìn bong bóng nước chạy trên đường

Như những đóa hoa vụt chóng nở

Rồi có thể em vào quán nước quen

Nơi chúng ta thường hẹn gặp

Buông tâm trí bập bềnh trên những đợt lao xao

Giữa đám ghế bàn quen thuộc

Nghĩ tới anh, nghĩ tới anh...

...Nghĩ tới những điều mà em sợ phải nghĩ tới

Và nghĩ tới anh,

... nghĩ tới anh.

 

Chúng ta không thể nào không biết đến những hàng lớp thanh niên ra ngoài trận chiến, mỗi giây phút phải đối đầu với những chuyện hiểm nguy. Sự sống và nỗi chết không còn biên giới. Có thể tiếng cười thoạt mới rộn rã bỗng tắt lịm bởi một tràng đạn bắn lén của quân thù. Tâm trạng của người chiến sĩ ray rứt mông lung. Lớn lên, bỗng dưng phải chấp nhận cuộc chiến thật phi lý. Nhiều khi đứng trên đỉnh đồi giữa khu rừng núi Khe Sanh - Ái Tử, dưới chân là ngổn ngang xác ta và địch sau một trận chiến ác liệt, màu da vàng, khuôn mặt trẻ thơ, nằm chết như ngủ say trên cỏ tranh, hiền hòa không chút thù hận, lòng ta bỗng gợn lên những xót xa. Người từ phương Bắc xa xôi băng rừng lội suối tới.  Bạn ta từ phương Nam trực thăng vận ào ào lên đây, để rồi cùng bỏ thây trên đỉnh núi này.  Những con chốt thân phận nhược tiểu qua sông trên bàn cờ chính trị quốc tế thật đau lòng. Và cả hai đều cứ tưởng mình chết để vinh danh Tổ Quốc Dân Tộc.

Trước mặt, những người lính còn lại vẫn an nhiên uống rượu với tử thần:

 

...Ta chắt cho nhau giọt rượu sót

Tưởng đời sót chút thiếu niên đây

Giờ cất quân, đưa tay bắt

Ước cõi âm còn gặp để say...

(Anh Hùng Tận)

 

... Cồn xa cây vướng sáng mơ màng

Áo quan phong quốc kỳ oanh liệt

Niềm thiên thu đầm cổ xa tang

Quê ta không tiện đường đưa tiễn

Nghĩa tận sơ sài đám lạnh tanh

Thêm một chút gì như hối hả

Người thân chưa khóc ráo thân tình...

(Qua Sông)

 

Cuộc chiến mỗi ngày bùng vỡ giữa hai ý thức hệ Cộng Sản và Tự Do.  Hay nói khác hơn là cuộc chiến quyết liệt giữa hai ý niệm ác và thiện.  Cái ác đầu độc tư tưởng sắt máu, hận thù, hiểm độc, ngụy taọ tuyên truyền giải phóng... Với mục đích xâm lấn lãnh thổ và triệt hủy văn hóa tự do, nhân bản!  Cái thiện với bản chất nhân đạo, chống giữ bằng thái độ bao dung khoan hòa và tình người.  Người lính Quốc Gia vừa cầm súng chiến đấu vừa yêu nhạc Trịnh Công Sơn và thích thơ Xuân Diệu, Huy Cận... một cách thoải mái.  Người lính phương Nam chiến đấu trong tư thế tự vệ. Đối diện với quân thù, nếu không chiến đấu sinh tồn sẽ tự sát. Đơn giản thế thôi “...Họ vào sinh ra tử lúc nào cũng khơi khơi, coi cái chết như không, coi chuyện đời như phù vân, coi kẻ thù như một lũ khờ dại đáng thương, chỉ có hạng mê muội mới hăng say...”

 

Buổi chiều uống nước giòng Ma-hý

Thằng Xuân bắn chết thằng Mang-Khinh

Hỡi ôi! Sống chết là mưa nắng

Gió tối mưa đêm chớ lạnh mình...

(Thảo Khấu - Nguyễn Bắc Sơn)

 

Bậc thánh triết là những tay biếng nhác

Sống khề khà quanh bữa tiệc nhân sinh

Kết bạn bè cùng cây cỏ vô minh

Rất chán ghét những trò chơi thế sự...

(Đại Lãn - Nguyễn Bắc Sơn)

(Văn Học Miền Nam - Tổng Quan - Võ Phiến).

 

Ở thủ đô đầy ánh sáng, trong giới quyền lực đang say mê những điệu luân vũ hơn theo dõi những tin tức nóng bỏng từ chiến trường xa.  Những chán nản rã rượi trước những nguồn tin phóng đi từ vô tuyến truyền thanh, từ báo chí trong và ngoài nước.  Lời tuyên dương Stanley Karnow khi nhận giải Pulitzer với lý do: Anh ta đã có công sưu tầm những tổ chức một cách xác thực đến đường giây buôn lậu quốc tế khủng khiếp đang xảy ra giữa ban ngày tại miền Nam và đã dùng ngòi bút miệt thị tận tình để bôi đen hình ảnh hào hùng của Quân Đội VNCH.  Những lớp trí thức khác gục đầu lên những trang sách hiện sinh, nôn mửa của Camus, Sartre... như một kiểu cách thời thượng. Đêm vẫn dày đặc, tỏa mù khói thuốc bên những chai Hennessy đắt tiền.  Bên những cô gái sặc sụa giọng cười như mảnh thủy tinh vỡ vụn, nhầy nhụa với âm thanh những lời ca lê thê não nề, khuấy động tâm tư con người bi lụy trứơc cảnh tang tóc đau thương của chinh chiến.  Ai chết mặc ai.  Người lính, thực sự không có lối về.  Đoàn quân bảo vệ đất nước vẫn ngày đêm tiếp tục chiến đấu, hy sinh trong thầm lặng.  Xót xa từng trang sử máu đau thương.  Cuộc chiến thiếu công bằng trong mắt nhìn của thế giới. Trò chơi biển lận của những tên lái buôn chính trị đầy xảo quyệt.  Chiến tranh bị xuyên tạc dối trá từ những hệ thống tuyên truyền tồi tệ đó, lan rộng khắp thế giới, tạo nên trạng thái tâm lý cô đơn vô vọng, hầu như mọi người lính có lương tri và liêm sỉ đều biết.  Dĩ nhiên người lính, người thi sĩ, biểu hiện trí thức miền Nam Tô Thùy Yên cũng cảm thấy nỗi ưu tư dây chuyền sâu sắc của người lính nơi trận mạc. Và Tô Thùy Yên đã cảm thông định mệnh oan nghiệt mà thế hệ cùng thời với ông đã nhận phận khổ đau:

 

...Bảo xác chết làm phân bón hòa bình

Chúng nó giết người trong nhà ngoài ngõ

Chúng nó giết người như dọn rừng hoang

Một tiếng thôi tư bản hay vô sản

Không ai đứng ngoài cuộc báo thù này

Nát thân tôi đường mã tấu hai phe

Tôi ngã quỵ đôi bàn tay sạch sẽ...

(Ngoại Cuộc)

 

...Và tôi xử tử tôi

Giữa ngõ tắt đưa về định mệnh...

(Tội Trạng)

 

...Tôi thổ huyết cuồng mê như núi lửa

Thiêu hủy hình hài ăm ắp chất cô đơn

Rồi trời đất hừng đông như trứng vỡ

Tôi đã đầu thai thức dậy đỏ sơ sinh

(Kiếp Khác)

 

Thi sĩ Tô Thùy Yên đã thể hiện ý thức chán chường

qua những chặng sống thê thiết buồn bã xót xa. Thực sự anh đã hoàn toàn đánh mất niềm tin, lịch sử đang bị bỏ quên trong huyệt mộ:

 

...Tôi chạy cắm đầu trên sợi kinh hoàng

Giăng qua đôi bờ vực lạnh hư vô...

Anh sống làm quen cùng cái chết

Liếm lấy mặn mà trên đau thương

Chìm mãi xuống em và mất tích

Như mặt trời rã trong nước loang...

(Hải Phận)

 

Sự phẫn nộ và nguyền rủa ý đồ của những kẻ đầy tham vọng gây chiến tranh của thi sĩ, như viên sỏi rơi chìm trên mặt hồ trầm lắng của thế nhân.  Anh hét lớn trong thinh không như một niềm bi phẫn với trời đất  “...Hú dài một tiếng lạnh về hư không!” (Không Lộ)

 

...Ta hỏi han hề Hiu Quạnh Lớn

Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ...

(Trường Sa Hành)

 

Tôi hiểu được niềm ưu tư ray rứt của thi sĩ, vì ông đã đến với người lính tận cùng nơi chốn trận mạc, đã cười đùa với cái chết cận kề, và cũng đã hồn nhiên tham dự vào cuộc chơi đầy phi lý:

 

...Cuộc cờ kỳ lạ không bày tướng

Ăn sạch quân, trừ tính được thua

Hỡi ai tráng sĩ mài dao nhọn

Xin nhớ đời không mỗi sắc vua

(Hề, Ta Trở Lại Gian Nhà Cỏ)

 

Chưa có nhà thơ quân đội nào đề cập đến hình ảnh người lính trong thơ tuyệt vời đến như thế, ngoại trừ Quang Dũng, Nguyễn Bắc Sơn, Luân Hoán, Cao Thoại Châu, Hà Huyền Chi, Lâm Hảo Dũng, Phan Nhật Nam, Trần Hoài Thư...

 

...Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm...

 

...Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành...

(Tây Tiến - Quang Dũng)

 

Như chuyện đã an bài, chiếc lá đã thả trôi theo giòng nước... Tô Thùy Yên cũng đành chấp nhận buông trôi theo với số phận an bài. Những dấu tích người lính ông đã chân thật ghi lại trong thơ.  Những hình ảnh sinh động nhưng đượm buồn man mác:

 

Đò nghẹn đoàn quân xa tiếp viện

Mưa lâu trời mốc buồn hôi xưa

Con đường đáo nhậm xa như nhớ...

 

...Tới đây toàn những tay hào sĩ

Sống chết không làm thắt ruột gan

Cũng không ai nhắc về thân thế

Có vợ con mà như độc thân...

 

Nỗi niềm chua chát thể hiện qua câu hỏi, qua nụ cười vì cuộc chiến đang đến hồi thúc bách hiểm nguy:

 

Bạn hỏi thăm ta cho có lệ

Cuộc đời binh nghiệp. Ta cười bung:

Còn mươi tháng nữa lên trung úy

Có thể ngày mai chửa biết chừng

(Anh Hùng Tận)

 

Tâm trạng hoang mang của người lính chiến gần như là nỗi hoang mang chung trong hầu hết hàng lớp thanh niên của thời điểm chiến tranh trước 1975. Một giấc mơ bình thường chỉ mong cho cuộc chiến phi lý này sớm kết thúc trong hòa bình thực sự, trở về sống an phận với cái thế giới riêng tây giữa cõi trời đất quê hương thanh bình:

 

...Hề, ta trở lại gian nhà cỏ

Sống tàn đời kẻ sĩ tàn mùa

Trên dốc thời gian, hòn đá cuội

Lăn dài kinh động cả hư vô

 

...Hề, ta trở lại gian nhà cỏ

Tử tội mừng ơn lịch sử tha

Ba vách, ngọn đèn xanh, bóng lẻ

Ngày qua ngày, cho hết đời ta...

 

...Ta ngồi cho đến khi trời trắng

Đồng ruộng xanh đông đúc tiếng người

Ta rảo quanh làng hóng chuyện phiếm

Đời người cũng chuyện phiếm mà thôi...

(Hề, Ta Trở Lại Gian Nhà Cỏ)

 

Giấc mộng con đơn giản đó, đã tắt lịm khi cơn bão lửa thổi về miền Nam. Những cánh rừng đã ngộp thở và bầy chim đã xao xác bay lên. Thi sĩ Tô Thùy Yên và những người lính trong đoàn quân bách chiến ở An Lộc, Cổ Thành Quảng Trị, Khe Sanh, Chu Phong, biên giới Việt Miên... đã bị bức tử một cách dã man và đẩy vào các trại cải tạo khắp rừng núi Cao Nguyên và Việt Bắc. Không còn lý do nào hơn nhận chịu sự đau đớn tận cùng về thể xác hơn mười ba năm sau ba lần bị chính quyền Hà Nội bắt giam... “Lần đầu Tô Thùy Yên bị bắt đi học tập cùng với Sĩ Quan QLVN và bị đưa đi các trại cải tạo tại miền Nam và miền Bắc trong hơn 10 năm. Tới năm 1988, Tô Thùy Yên lại bị bắt về tội vượt biên và bị giam gần bốn tháng. Sau cùng vào tháng 11 năm 1990, Tô Thùy Yên bị bắt lần thứ ba bị kết những tội danh nặng nề hơn như... “tuyên truyền chống Xã Hội Chủ Nghĩa” và “Âm mưu lật đổ chính quyền”. Tuy không bị đưa ra tòa và kết án, nhưng ông bị đối xử tàn tệ, bị biệt giam nhiều tháng trong xà lim cho tới năm 1992 mới được thả về...” (Tài liệu của Nguyễn Đức - Minnesota).

Với sự chịu đựng ròng rã, cuối cùng ông đã bước ra khỏi những núi rừng khắc nghiệt kinh hoàng đó:

 

...Hề, ta trở lại gian nhà nhỏ

Giữa cánh đồng không bên kia sông

Trống trải hồn ta cơn gió rã

Tiếng tàn, tàn rụng suốt mênh mông

 

...Em nhỏ, làm chi chim biển Bắc

Xa rồi đám lửa cuối thiên thu

Cửa thần phù dựng trường sơn sóng

Mỗi ngọn xô chìm một giấc mơ

(Em Nhỏ, Làm Chi Chim Biển Bắc)

 

Hơn mười năm ông lăn lộn trong bao nhiêu nghịch cảnh của kiếp sống, những đảo điên liên tục của trùng trùng oan nghiệt, nhưng may thay ông đã giữ tâm thường trụ an bình. Cái Tâm Bát Nhã mênh mông lượng đất trời. Chính ông khai mở chốn tuyệt cùng của Tâm Thức, cánh cửa Đại Từ đã tỏa sáng hào quang. Hận thù như sương khói tan biến trước đôi mắt nhân ái bao dung tuyệt vời của thi sĩ. Thi sĩ hiện hữu với vai trò sứ giả tối thượng của Sự Sống đầy nhân bản của Tự Do, Hòa Bình. Người thi sĩ dịu dàng mang đến mùa xuân, ngôn ngữ bằng âm điệu chim muông và nhạc suối an lạc ngàn đời. Là lúc tâm tâm trí ông tĩnh lặng cho dù bão đời vừa nghiệt ngã thổi qua:

 

... Ta về cúi mái đầu sương điểm

Nghe nặng từ tâm lượng đất trời

Cám ơn hoa đã vì ta nở

Thế giới vui từ mỗi lẻ loi...

 

Ta về khai giải bùa thiêng yểm

Thức dậy đi nào, gỗ đá ơi

Hãy kể lại mười năm mộng dữ

Một lần kể lại để rồi thôi...

 

Ta về như hạc vàng thương nhớ

Một thuở trần gian bay lướt qua

Ta tiếc đời ta sao hữu hạn

Đành không trải hết được lòng ta...

(Ta Về)

 

Chắc ông không bao giờ quên, đã có một lần Tô Thùy Yên “toan bỏ ra đi vĩnh viễn trước kỳ hạn...” (Theo tin Thi Vũ) vào khoảng thời gian 1989 nhưng may cứu thoát kịp thời khi ông quyết định cắt cườm tay tự tử. Như một đối kháng của thi sĩ. Lần này ông và gia đình thực sự rời khỏi quê hương Việt Nam yêu dấu, tuy ông không chọn cách tự hủy, nhưng ông cũng cảm thấy xa rời nơi chốn sinh thành chẳng khác chi một loài cây bị bứng hết gốc rễ, như một lưu đày biệt xứ, nỗi đau cũng thấm thía khôn cùng. Nhiều nhà văn nhà thơ đã viết về Tô Thùy Yên trước 75, cũng như sau 75 ở hải ngoại. Trong phần “Thơ Miền Nam” tập một, nhà văn Võ Phiến đã nhận định về Tô Thùy Yên “Gần như toàn bộ sự nghiệp thi ca của Tô Thùy Yên là một dấu hỏi khổng lồ nêu lên trước cái bí ẩn muôn đời của vũ trụ...”.

Với Thi Vũ trong Bốn Mươi Năm Thơ Việt Nam đã nói về Tô Thùy Yên “...Và biết đâu kẻ cứu tinh nòi giống không là một thi sĩ? Không là dòng thơ Tô Thùy Yên? Một Nguyễn Du khác:

 

Ta về cúi mái đầu sương điểm

Nghe nặng từ tâm lượng đất trời...

 

Khung đời nhị nguyên tan vỡ qua thế phận Kiều của “trăm năm trong cõi người ta. Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” vừa khép lại. Cùng với Tô Thùy Yên hiển hiện mối dung thông bất nhị lúc “NGHE NẶNG TỪ TÂM LƯỢNG ĐẤT TRỜI”.

 

Đến lúc cái tiểu ngã hòa nhập vào cái đại ngã của tạo hóa, cái hữu hạn đã hòa nhập vào cái vô cùng của vũ trụ, để nhìn thấy Chân Như Sắc Không Vi Diệu. Điều mà thiền sư Đạo Hạnh mấy trăm năm trước đã ngộ:

 

Tác hữu trần sa hữu

Vi không nhất thiết không

Hữu không như thủy nguyệt

Vật trước hữu không không

 

Có thì có tự mảy may

Không thì cả vũ trụ này cũng không

Có không: bóng nguyệt lòng sông

Cả hai tuy vậy chẳng không chút nào

(Võ Đình)

 

Dù sao Tô Thùy Yên cũng đã đến nơi bằng hữu, đến nơi mà ông đã có lần hăm hở và tuyệt vọng ra đi. Thế giới nào cho riêng ông một ước mơ khiêm cung bé nhỏ của tâm hồn người thi sĩ:

 

...Ở đây ta có dăm pho sách

Và một giòng sông, mấy cụm mây

 

...Dòng sông u hiển trôi vô lượng

Dòng sông hiền triết chảy vô tâm

Mà ta ngưỡng vọng như Sư phụ

Mà ta thân thiết tựa tri âm...

(Hề, Ta Trở Lại Gian Nhà Cỏ)

 

Chúng ta hòa nhập chia xẻ với Tô Thùy Yên cái thế giới âm điệu thanh thoát từ ái mà chúng ta cứ tưởng riêng tư thầm kín nào của ông. Đó chính là cái hơi thở phát tiết từ trí tuệ tỏa ngát hương trầm của truyền thống ngàn năm của tinh thần Lạc Việt. Yêu thương mà không mê muội. Bao dung chứ không bao giờ bi lụy khuất phục. Ông mang tâm thức hùng tráng của bậc hành giả lên đường, khám phá những am mây đạo hạnh, khai mở những thảo nguyên an bình. Những ngọn đỉnh của Tình Thương.

Khi tâm ông thực sự thăng hoa chuyện trở về như một cứu rỗi tha nhân:

 

Ta về như lá rơi về cội

Bếp lửa nhân quần ấm tối nay,

Chút rượu hồng đây, xin nước xuống

Giải oan cho cuộc biển dâu này

(Ta về)

 

Nhưng tình huống thực tế đẩy ông ra đi, nghịch lý nội tâm chắc đã làm cho nhà thơ nặng tình với quê hương vương chút bụi trầm luân. Âu cũng là định mệnh. Cho dù hoàn cảnh trôi theo không gian thời gian nào, hãy xin giữ cho Tâm là đường chim chứ đừng như giòng nước. Vì nước đã từng quên mình là suối khi hòa nhập vào đại dương. Chim cho dù ngàn dặm xa cũng còn hy vọng nhớ nguồn cội quay về.