SG1


Menu



Đài Tưởng Niệm

Thuyền Nhân

Việt Nam

Tiếp Theo...

* CẦU NGUYỆN VÀ TƯỞNG NIỆM NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM 2016 TẠI NAM CALI


* 40 NĂM QUỐC HẬN LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN, BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* 30 THÁNG TƯ, TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* BI SỬ THUYỀN NHÂN (Nguyễn Quốc Cường)


* BIỂN ĐÔNG LỤC BÌNH TRÔI


* CÁI GIÁ CỦA TỰ DO


* CÁNH BÈO BIỂN CẢ (Văn Qui)


* CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ CON TÀU MANG SỐ MT065


* CẦU SIÊU BẠT ĐỘ TẠI ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM WESTMINSTER


* CHUYỆN KỂ HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG (Nhiều Tác Giả)


* CHỨNG TÍCH ĐỂ ĐỜI: ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* CHUYẾN VƯỢT BIÊN ĐẪM MÁU (Mai Phúc)


* CHUYẾN VƯỢT BIỂN HÃI HÙNG


* CON ĐƯỜNG TÌM TỰ DO (Trần Văn Khanh)


* CÒN NHỚ HAY QUÊN (Nguyễn Tam Giang)


* DẠ TIỆC VĂN NGHỆ "LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG" THÀNH CÔNG NGOÀI DỰ KIẾN CỦA BAN TỔ CHỨC


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Việt Hải)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TẠI QUẬN CAM (Vi Anh)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM: BIỂU TƯỢNG THIÊNG LIÊNG CỦA NIỀM KHÁT VỌNG TỰ DO VÀ NHÂN QUYỀN


* ĐÊM DÀI VÔ TẬN (Lê Thị Bạch Loan)


* ĐI VỀ ĐÂU (Hoàng Thị Kim Chi)


* GALANG: BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM BỊ PHÁ BỎ


* GALANG MỘT THỜI - MỘT ĐỜI (Nguyễn Mạnh Trinh)


* GIÁNG NGỌC PHỎNG VẤN NHÀ THƠ THÁI TÚ HẠP VÀ NỮ SĨ ÁI CẦM VỀ LỄ KHÁNH THÀNH ĐTNTNVN


* GIỌT NƯỚC MẮT CHO NGƯỜI TÌM TỰ DO (Lê Đinh Hùng)


* HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT


*"HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG: TỰ DO, MỘT NHU CẦU THIẾT YẾU, ĐÁNG ĐỂ TA ĐI TÌM"


*HÀNH TRÌNH GIAN NAN TÌM TỰ DO  


* HÀNH TRÌNH TÌM CON NƠI BIỂN ĐÔNG


* HÌNH ẢNH MỚI NHẤT CHUẨN BỊ KHÁNH THÀNH VÀO THÁNG 04-2009


* HÒN ĐẢO BỊ LÃNG QUÊN (Meng Yew Choong)


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ VINH DANH ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ WESTMINSTER THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT “NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM”


* KHÁNH THÀNH ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI NAM CALI


* KHẮC TÊN TRÊN BIA TƯỞNG NIỆM (Việt Hải)


* LÀN SÓNG THUYỀN NHÂN MỚI


* LỄ ĐỘNG THỔ KHỞI CÔNG XÂY DỰNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* LỄ KHÁNH THÀNH TRỌNG THỂ ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI QUẬN CAM


* LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TỔ CHỨC TRANG NGHIÊM TẠI NGHĨA TRANG WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* LÒNG NHÂN ÁI (Tâm Hồng)


* LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG (Thơ Thái Tú Hạp)


* MEMORIAL TO BOAT PEOPLE WHO DIED TO BE DEDICATED SATURDAY


* MỘT CÁI GIÁ CỦA TỰ DO (Trần Văn Hương)


* MƠ ƯỚC "MỘT NGÀY TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN" ĐÃ TRỞ THÀNH SỰ THẬT


* NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM THỨ 5


* "NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM" TỔ CHỨC TRỌNG THỂ TẠI WESTMINSTER


* NGƯỜI PHỤ NỮ SỐNG SÓT SAU CHUYẾN VƯỢT BIỂN KINH HOÀNG


* NHỮNG CHUYỆN HÃI HÙNG CỦA THUYỀN NHÂN (Biệt Hải)


* NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT ĐỀU CÓ THẬT (Ngô Dân Dụng)


* NHỮNG THÁNG NGÀY YÊU DẤU NƠI HOANG ĐẢO (Tuấn Huy)


* NỖI BẤT HẠNH ĐỜI TÔI (Thùy Yên) 


* NỖI KHỔ CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Thy Vũ Thảo Uyên)


* NƯỚC MẮT CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Nguyễn Mỹ Linh)


* SAIGON TIMES PHỎNG VẤN MỤC SƯ HÀ JIMMY CILLPAM 4 NĂM CÓ MẶT TRÊN TÀU AKUNA CỨU HƠN 5000 NGƯỜI VIỆT NAM VƯỢT BIỂN TÌM TỰ DO TRÊN BIỂN ĐÔNG


* TÀU SẮT BẾN TRE (Tú Minh)


* THẢM KỊCH BIỂN ĐÔNG (Vũ Duy Thái)


* THẢM SÁT TRÊN ĐẢO TRƯỜNG SA


* THỊ XÃ WESTMINSTER VINH DANH TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN


* THÔNG BÁO CỦA ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VN


* THƠ LÀM KHI ĐỌC TIN THUYỀN NHÂN (Viên Linh)


* THUYỀN NHÂN: ẤN TÍCH LỊCH SỬ


* THUYỀN NHÂN VÀ BIỂN ĐỘNG


* THUYỀN NHÂN VÀ MỘT VÀI HÌNH ẢNH CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN


* THUYỀN NHÂN VIỆT NAM VƯỢT BIÊN, TỬ NẠN, ĐẾN BỜ TỰ DO ĐÃ GIÚP NHÂN LOẠI NHÌN RÕ ĐƯỢC CHÂN TƯỚNG CỦA CỘNG SẢN (Lý Đại Nguyên)


* TRÔI GIẠT VỀ ĐÂU (Nguyễn Hoàng Hôn)


* TRỞ VỀ ĐẢO XƯA... (Nguyễn Công Chính)


* TỪ TẤM BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN Ở GALANG NHÌN RA CON ĐƯỜNG HÒA GIẢI


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN VIỆT NAM ĐÃ CHÍNH THỨC ĐƯA VÀO WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN ĐÃ ĐƯỢC ĐẶT VÀO VỊ TRÍ AN VỊ TRONG KHUÔN VIÊN WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30-4-2012

* VĂN TẾ THUYỀN BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* VƯỢT BIỂN (Thanh Thanh)


* VƯỢT BIỂN MỘT MÌNH (Nguyễn Trần Diệu Hương)


* XIN VỀ ĐÂY CHỨNG GIÁM, AN GIẤC NGÀN THU


* XÓA DẤU VẾT TỘI ÁC (Phạm Phú Minh)


 Saigon Times USA

 

 

MỘT  NỀN VĂN HỌC

ĐẦY TIẾNG SÚNG:

VĂN CHƯƠNG TRONG NƯỚC  

                                                                    

NGUYỄN MẠNH TRINH

 

Từ xưa tới  nay, chiến tranh vẫn là một đề tài lớn của nhân loại . Những danh tác như “Chiến Tranh và Hòa Bình”,  như “Mặt trận miền Tây vẫn yên tĩnh”,…đã phác họa lại một thời nhưng lại sống lâu cả đời và thành những tác phẩm “ classic” tiêu biểu. Viết về chiến tranh của những thời đại khác nhau, nhưng vẫn  là  viết  về  một con người muôn thuở. Do đó , từ những chân dung ấy , những người sống ở các thế hệ sau dễ dàng bắt gặp những tần số chung để có sự chia sẻ…

Chiến tranh ở Việt Nam , suốt mấy chục năm , đã trở thành chuyện bình thường.  Bao nhiêu là biến cố , bao nhiêu là sự kiện , viết hoài cũng chưa hết , kể hoài cũng chưa đủ. Thậm chí cho đến nay, tiếng súng đã hết từ ba mươi năm , nhưng chiến tuyến hình như vẫn cón ẩn hiện giữa những người Việt với nhau. Kêu gọi hòa giải, thúc giục đoàn kết, đôi khi chỉ là những chiêu bài cho những tính toán , mưu đồ riêng.

Trong văn chương, trong nghệ thuật, đã thấy những dấu hiệu. Giơ tay mời trở về , không phải vì tình tự dân tộc , mà vì cái túi tiền , vì chất xám của người trở về. Còn người quy cố hương, chưa hẳn vì muốn góp công góp sức cho đất nước , mà , còn nhắm vào những lợi lộc sẽ có , đến những mục tiêu cá nhân .

Trước năm 1975, ở miền Bắc Việt Nam, đã có  một nền văn học phục vụ chiến tranh.  Một giàn hợp xướng vĩ đại được Đảng thành lập với chủ trương hy sinh tất cả cho chiến tranh. Chủ trương  ấy đã được đầu nậu văn nghệ  Tố Hữu viết thành thơ :

 

“dẫu  một  cây chông trừ giặc  Mỹ

hơn ngàn trang sách  luận  văn chương”

 

Cũng như những đề cương văn hóa của Trường Chinh viết từ những năm đánh Pháp tới về sau là những kim chỉ nam để các văn nghệ sĩ noi theo.  Từ hình ảnh anh vệ quốc quân thời kháng Pháp đến anh bộ đội  thời chống Mỹ , chỉ là một, những con ngươì quên mình vì lý tưởng , luôn lạc quan dù cả những khi biết mình sẽ bị hy sinh như một con cờ làm chốt thí.  Về văn xuôi , về thơ, và nhất là ở thể ký , tất cả như một giàn đồng ca cùng một giong điệu, một cung bậc. Nếu có ai đi ra ngoài hạn định sẽ bị phê bình và tự nhiên bị loại ra khỏi sinh hoạt văn chương ngay.

Thời chống Pháp,  chiến tranh được ghi dấu lại với những bài thơ của Tố Hữu, Quang Dũng , Chính Hữu , Hoàng Cầm, Hồng Nguyên , Hoàng Lộc . Hữu Loan,… Hình ảnh anh bộ đội là đề tài tập trung của văn học.   Những áng văn xuôi như “Trận Phố Ràng’ của Trần Đăng, “ Voi đi “ của Siêu Hải, “ Bên đường 12” của Vũ Tú Nam , “ Xung kích “ của Nguyễn Đình Thi,… đều là những lời kêu gọi hy sinh, toàn là mô tả những gương anh hùng , những người không nghĩ đến cá nhân mình khi liều mình vào trận chiến.  Những bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng, những Đêm Liên Hoan  và Bên Kia Sông Đuống của Hoàng Cầm, những Nhớ của Hồng Nguyên,  những Các Anh Về  của Hoàng Trung Thông,… góp phần vào dòng văn học viết về chiến tranh thời đó.    

Nhưng, lại bị phê bình chỉ trích kịch liệt. Những bài thơ của Quang Dũng, được coi như là những bài thơ tuyệt tác  đỉnh cao của thi ca kháng chiến thì bị Tố Hữu cho đó  là  “ tư tưởng sa đọa, văn hóa suy đồi “.  Quang Dũng vì mấy bài thơ bị ghen tài mà suốt cả đời lận đận.

Bài “ Nhớ" của Hồng Nguyên  cũng bị Hoài Thanh kết án là “ yếu đuối ủy mị” và có ngôn ngữ của thái độ trịch thượng, xa cách với đồng bào , nhất là quảng đại dân chúng bình dân ít học.

Lưu Trọng Lư  thì quy tội  bài thơ “ Không đề” của Nguyễn Đình Thi  có ý tưởng sai lạc , tư tưởng tiêu cực , ngôn ngữ hiu hắt và đòi  phải xóa tên Nguyễn Đình Thi khỏi   danh sách những thi sĩ của vương quốc thi ca . Và chính Lưu Trọng  Lư cũng bị Hoài Thanh sửa lưng trong cuốn sách “ Nói chuyện thơ kháng chiến “  nào chê bai là  bi quan không tin tưởng vào Đảng và chính nghĩa và đòi phải sửa những câu thơ trong bài “ Ngò cải đơm hoa”. Lưu Trọng Lư tức giận  nhưng vì bị áp lực  nên đành sửa chữa để một bài thơ hay trở thành một bài thơ dở…

Một phong trào viết về những người lính anh hùng  được phát động sau khi Trường Chinh đọc  báo cáo “ Thi đua ái quốc và chủ nghĩa anh hùng mới”. Những nhà văn tên tuổi được chỉ định để viết về từng người được phong tặng chiến sĩ anh hùng. Nguyễn Xuân Sanh viết về Trần Đại Nghĩa, Nguyễn Huy Tưởng viết về Ngô Gia Khảm, ,Vũ Cao viết về Nguyễn thị Chiên, Tô Hoài viết về Kim Đồng,  Vũ Tú Nam viết về La Văn cầu, Từ Bích Hoàng viết về Nguyễn Phú Vỹ. .. Và sau này khi in thành  tập truyện Anh Hùng Chiến Sĩ Thi Đua và được giải thưởng văn học ngoại hạng… những hìnhtương anh hùng này không hiểu có thực trên cõi đời không hay chỉ là trong tưởng tượng như anh hùng Lê Văn Tám liều mình để đốt kho xăng của thực dân Pháp?…

Đến thời kỳ chiến tranh ở  miền Nam sau này khi bắt đầu những hành động vũ trang, chiến tranh lại có mặt và  giàn đồng ca lại nổi lên mạnh mẽ hơn với  những giọng hợp xướng quen thuộc.    Nguyễn Hưng Quốc viết trong  “Văn Học Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản”:

“Dấu vết chiến tranh hiện hình ngay trên những tựa sách. Thơ nào là Ra Trận (Tố Hữu), nào là Gửi Chiến Trường Chống Mỹ(Hòang Tố Nguyên), nào là Những Bài Thơ Đánh Giặc( Chế Lan Viên),  nào là Chiến Trường Gần Đến Chiến Trường Xa( Huy Cận), nào là Hoa Dọc Chiến Hào( Xuân Quỳnh), nào là Trong Gió lửa ( Hoàng Trung Thông)..

Văn xuôi cũng thế. Cũng hừng hực  không khí chiến tranh Chế Lan Viên viết Những Ngày Nổi Giận(1966). Nguyễn Đình Thi viết Vào Lửa (1966), Hữu Mai viết Phía trước là Mặt Trận )1966) Hồ Phương viết Nhắm Thẳng Quân Thù Mà Bắn(1968), Lê Văn Thảo viết Ngoài Mặt Trận(1969) , Vũ Cao viết  Từ Một Trận Địa (1969) , Nguyễn Khải viết Họ Sống và Chiến Đấu(1966)…

Thật ra văn học Cộng Sản từ năm 1945 đến nay lúc nào cũng là  một nền văn học chiến tranh. Lúc nào trên trang sách cũng vang vang những tiếng súng nổ. “Nay ở trong thơ nên có thép. Nhà thơ cũng phải biết xung phong. Hai câu thơ của Hồ Chí Minh đã được coi như một cương lĩnh sáng tác cho tất cả mọi người. Tuy nhiên chưa  có lúc  nào dấu vết  của chiến tranh lại rõ rệt  lại bao trùm trong toàn bộ nền văn học  của Cộng Sản  như trong gia đoạn 1965-1975.

Viết về miền  Nam, viết về vùng trời, vùng biển, viết về những nơi gọi là “ tuyến lửa “ như Quảng Bình , Nghệ An.. người ta mô tả như là trung tâm của cơn bão.Ngay cả khi viết về những đề tài như nông , công nghiệp người ta cũng coi chiến tranh như một cơn bão rớt gió dữ vẫn lồng lộng thổi tới len vào tận các ngõ ngách trong tâm trạng con người. Không có cảnh ngộ nào , kể cả lúc hai người con trai con gái đang tỏ tình với nhau, chiến tranh lại không là một ám ảnh…”

Nhưng cũng có những giọng ca lạc điệu trong giàn hợp xướng ấy, Như bài thơ  "Vòng trắng" của Phạm Tiến Duật có những câu như:

 

Khói bom lên trời thành một vòng đen

Trên mặt đất hiện lên bao nhiêu vòng trắng

có mất mát nào lớn bằng cái chết

khăn tang vòng tròn như một số không.

 

Những câu thơ ấy không được chấp nhận . Từ những hình  ảnh để đến những liên tưởng ,  từ vòng đen của khói bom đến vòng trắng của khăn tang rồi con số không của tận cùng mất mát, cái thông  điệp của chiến tranh đầy những  suy tư khốc liệt. Dù rằng trong bài thơ có đoạn kết khá có hậu:

 

“Tôi và bạn tôi đi trong im lặng.

Với cái đầu bốc lửa ở bên trong.”

 

Tạp chí Học Tập đã phê phán gay gắt: "Giữa lúc cần nói to lên niềm sung sướng tự hào về cái được vĩ đại  của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ  thì nhà thơ chỉ thấy cái mất, chỉ thấy tang tóc  đau thương và than thở..”

Thế là , âm hưởng của những bài thơ như “ Trường sơn Đông, Trường Sơn Tây”lại mất đi trong lỗ tai những lãnh đạo văn nghệ. Và, cái án treo lại lơ lửng với thi sĩ họ Phạm…

Lưu Quang Vũ, một nhà đạo diễn kịch tài ba, viết kịch bản cũng xuất sắc và là một nhà thơ đã thức tỉnh về chiến tranh khá sớm. Những câu hỏi luôn đặt ra trong thơ  ông , như những gút mắc càng ngày càngthăt chặt không gỡ bỏ được. Những  câu thơ như:”

 

“giữa chiến tranh hiểu đời thực hơn nhiều.

Rách tan cả những làn sương đẹp phủ.”

 

Hay

 

“ khi con người giết nhau

Những lá  thư không biết gửi về đâu

Những hải cảng không có tàu cập bến…”

 

Bài thơ “ Việt Nam ơi!” có những câu như:

 

“... tổ quốc là nơi tỏa bóng yên vui

nơi nghĩ đến lòng ta yên tĩnh nhất

nhưng nghĩ đến Người lòng tôi rách nát

xin Người đừng trách giận Việt Nam ơi

Người có triệu chúng tôi, tôi chỉ có một Người

Tất cả sẽ ra sao

Mảnh đất nghèo  máu ứa?

Người sẽ đi đến đâu

Mà Việt Nam đói khổ?

Đến bao giờ bông lúa

Là tình yêu của Người?..”

   

Những câu hỏi cho lãnh tụ, những vấn nạn khó cho chính người đặt ra.  Lưu Quang Vũ nhìn thấy được cái chiêu bài thúc giục hy sinh và hiểu được cái vô nghĩa của hành động bắn giết . và cả một thời kỳ , ông bị đầy ải cực nhục, sống không ra sống , chết chẳng ra chết. Nếu không có tình yêu với Xuân Quỳnh , có lẽ ông không ngóc lên được…  

Cái chết của gia đình Lưu Quang Vũ – Xuân Quỳnh đầy những nghi vấn . Những vở kịch của Lưu Quang Vũ  chuyên chở thật nhiều những ý hướng muốn thay đổi xã hội và nhắm vào những tiêu cực của một chế độ với những ngôn ngữ và ý tưởng đầy ẩn dụ.Và , chính vì nói lên được  cái tâm tư chung của nhiều người  nên có lúc đã thành tiếng nói của một thời đại mà chiến tranh tuy đã dứt tiếng súng nhưng vẫn còn ác liệt.

Có người đã phát biểu rằng những ký sự hoặc tiểu thuyết chỉ viết về một nửa sự thực bởi giới tuyến đã làm tầm nhìn bị  phân cách và sự chủ quan đã làm những nhận xét bị thu hẹp lại và một chiều . Nhất là , khi văn chương bị chỉ đạo chặt chẽ bởi chính sách đường lối của Đảng như ở Việt Nam.

Trong tạp chí Văn Nghệ Sông Cửu Long, nhà văn “Việt Cộng” Nguyễn Khắc Phê viết:  "Theo tôi , một nguyên nhân không kém phần quan trọng khiến cho các tác phẩm viết về chiến tranh chưa thỏa mãn được người đọclà quan niệm , cách nhìn về chiến tranh, về người anh hùng, vì lẽ này , lẽ khác còn phiến diện. Do đó chiền tranh hiện ra trên trang sách không sinh độngthường chỉ một chiều diễn tả , chứng minh “ ta thắng địch thua”và người anh hùng thì thường đơn giản , xơ cứng…”

Nhưng theo nhà văn này, cũng có những tác giả dám viết ra một phần sự thực , dù sau đó bị phê bình , kiểm thảo tơi bời. Như tiểu thuyết “ Đất Trắng “ của Nguyễn Trọng Oánh , “ Nỗi Buồn Chiến tranh “ của Bảo Ninh, “ Người lính đào hoa “  của Nguyễn Việt, “ Sông dài như kiếm “ của Nguyễn Quang Hà.

“Đất trắng" là một tiểu thuyết viết về vùng đất chiến tranh khốc liệt ở Quảng Trị   cũng có những nhân vật anh hùng chiến đấu kiên cường nhưng cũng có mẫu nhân vật hèn nhát đào ngũ như một chính ủy thuộc thành phần trung kiên của Đảng.

“Nỗi buồn chiến tranh” là một tiểu thuyết mô tả lại tâm tư của một lớp thanh niên bị đẩy vào cuộc chiến với chiêu bài giả tạo chống Mỹ cứu nước. Qua những trang sách những cực kỳ bi thảm của chiến tranh được phô bầy, những cuộc đời lỡ làng sau chiến tranh , những hy sinh vô lối của một cuộc chiến vô nghĩa .

"Người lính đào hoa “  là chuyện kể về một anh chàng lính trẻ có số đào hoa, yêu đương cũng hết mình và chiến đấu cũng xuất sắc. Nhưng bên cạnh chân dung chiến sĩ ấy , cũng có những bóng dáng của cấp chỉ huy hèn nhát , lại ham danh cướp công của  cấp dưới mà lại còn mê gái và dâm đãng nữa. “ Sông dài như kiếm” cũng là một tiểu thuyết viết về những ngày tháng chiến đấu gian khổ và cũng có những cấp chỉ huy nhỏ mọn, kèn cựa, thâm hiểm , và thích hưởng thụ, khoái ăn ngon, gái đẹp…

Tất cả những tiểu thuyết trên đều bị phê bình là sao làm vẩn đục cuộc chiến tranh mà họ gọi là thần thánh bằng những nhân vật , những tâm tư như thế.  Và có nhiều nhà phê bình cực đoan đã chụp mũ : Đó có phải là một cách chống đối  chế độ có ý thức không?

Bảo Ninh, trong một bài phỏng vấn của phóng viên Sinh Viên Việt Nam đã phát biểu:

“Hỏi: Trong Nỗi Buồn Chiến Tranh, độc giả cũng được tiếp cận rất mạnh với một dòng văn học gọi là “dòng ý thức”. Có người gôi đó là “một sự phủ nhận về hình thức, một sự phá vỡ bố cục truyền thống”. Còn trong tác phẩm anh viết rằng”..Đây là một sáng tác dựa trên cảm hứng chủ đạo của sự rối bời. Tôi không muốn nói là điên rồ”. Jean Paul Sartre  có nói rằng” Kỹ thuật của tiểu thuyết liên quan đến tư tưởng của tác giả” anh có đồng ý với quan niệm đó khi viết soi vào Nỗi Buồn Chiến Tranh? Và có một sự tác động nào đó từ bên ngoài hay chỉ là sự “ rối bời” của nội tâm lôi kéo anh theo cách viết này?

Bảo Ninh: Không cuốn tiểu thuyết nào lại không hàm trong nó cái mà anh gọi là “dòng ý thức".  Chỉ khác nhau là ẩn sâu hoặc  lộ ra thôi. Bây giờ nghiệm về những sự mình đã viết tôi thấy “ dòng ý thức” của Nỗi Buồn Chiến tranh nó lồ lộ quá . Tác giả nghĩ hộ cho nhân vật quá nhiều và cũng bắt nhân vật luc 1nào cũng đăm đăm suy nghĩ.Vì thế mà rối bời chăng?..”

Nếu ai đã đọc Nỗi Buồn Chiến Tranh thì sẽ thấy bên cạnh những vạch trần sự thực, vẫn còn những chi tiết mà sự mô tả còn chủ quan và đẫm cảm tính.  Khi viết về những người ở chiến tuyến đối diện, Bảo Ninh vẫn ở trong một tâm thức đối nghịch nên đã có những ngôn từ hoặc ý nghĩ thiên lệch không trung thực như khi tả những xe tăng T54 cán lên những người lính VNCH, hoặc tả lại cảnh chiến đấu của những người nữ cảnh sát tại Ban  Mê Thuột, hay những toán lính thám báo miền Nam xâm nhập mật khu hãm hiếp các nữ cán bộ.  Hình như,  những điều  tuyên truyền của chế độ  chuyên chế Cộng sản không thể nào gột rửa được trong trí óc những người lính miền Bắc.  Đã sau 15 năm không còn tiếng súng, mà cái tâm tư căm thù như thế vẫn còn dù bảo Ninh là một nhà văn tương đối ít cuồng tín và  không  phải là người  theo đuôi  chính sách văn hóa mà Đảng chỉ đạo . ..

Một cuốn tiểu thuyết khác của Dương Thu Hương viết ở trong nước và in ở hải ngoại. “ Tiểu thuyết vô đề” cũng gây ra nhiều dư luận. Viết về một cuộc chiến tranh mà nguyên nhân chỉ là những huyền thoại mơ hồ và những người tham dự  bị đẩy vào trong những hoàn cảnh chẳng thể lùi bước.   Như một người linh 1đã nghĩ “ Em nghĩ nhiều.. Em cũng nghe chán vạn điều thiên hạ nói. Nhưng mà nhân dân lúc có thực , lúc như bóng ma. Nếu cần lúa, nhân dân là con bò kéo cày. Lúc có chiến tranh con bò ấy mặc áo giáp và cầm súng. Rồi khi mọi sự đã qua, vào những ngày lễ lạc , hội hè .. người ta tôn xưng nhân dân như hú vọng các hồn ma, tưởng thưởng cho khói thơm và tro tiền, còn phần xôi thịt thì kẻ khác hưởng..”.

Cuộc chiến đã được phô bầy để thấy được tấn thảm kịch của một dân tộc phải chịu đựng. Bao nhiêu người chết, nghĩa trang Trường Sơn bạt ngàn xác người,  bao nhiêu tuổi thanh xuân bị phung phí vào lò lửa thiêu đốt , bao nhiêu sinh lực của dân tộc bị hao phí vô mục đích…

Một cuốn tiểu thuyết khác của Dương Thu Hương “Chốn Vắng” viết về thời kỳ hậu chiến tranh tuy đã không còn tiếng súng nhưng cuộc chiến đấu lại bi thảm và khó khăn hơn nhiều. Những sương phụ nửa chừng, những thương binh tàn phế, những cuộc đời lỡ làng dở dang, những cuộc sống sinh lý chênh lệch… tất cả những nhân vật ấy  có mặt trong một tấn thảm kịch thê thảm giữa những đè nén tính dục và những đòi hỏi xác thịt …

 Phác họa qua một vài tác phẩm, và theo dõi suốt một hành trình văn học , dần dần chiến tranh đã được giải mã  sau những thời kỳ tác giả viết theo chính sách, tạo nên những hình tượng  anh hùng , của những tưởng tượng tuyên truyền không thực..."