SG1


Menu



Đài Tưởng Niệm

Thuyền Nhân

Việt Nam

Tiếp Theo...

* CẦU NGUYỆN VÀ TƯỞNG NIỆM NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM 2016 TẠI NAM CALI


* 40 NĂM QUỐC HẬN LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN, BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* 30 THÁNG TƯ, TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* BI SỬ THUYỀN NHÂN (Nguyễn Quốc Cường)


* BIỂN ĐÔNG LỤC BÌNH TRÔI


* CÁI GIÁ CỦA TỰ DO


* CÁNH BÈO BIỂN CẢ (Văn Qui)


* CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ CON TÀU MANG SỐ MT065


* CẦU SIÊU BẠT ĐỘ TẠI ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM WESTMINSTER


* CHUYỆN KỂ HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG (Nhiều Tác Giả)


* CHỨNG TÍCH ĐỂ ĐỜI: ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* CHUYẾN VƯỢT BIÊN ĐẪM MÁU (Mai Phúc)


* CHUYẾN VƯỢT BIỂN HÃI HÙNG


* CON ĐƯỜNG TÌM TỰ DO (Trần Văn Khanh)


* CÒN NHỚ HAY QUÊN (Nguyễn Tam Giang)


* DẠ TIỆC VĂN NGHỆ "LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG" THÀNH CÔNG NGOÀI DỰ KIẾN CỦA BAN TỔ CHỨC


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Việt Hải)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TẠI QUẬN CAM (Vi Anh)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM: BIỂU TƯỢNG THIÊNG LIÊNG CỦA NIỀM KHÁT VỌNG TỰ DO VÀ NHÂN QUYỀN


* ĐÊM DÀI VÔ TẬN (Lê Thị Bạch Loan)


* ĐI VỀ ĐÂU (Hoàng Thị Kim Chi)


* GALANG: BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM BỊ PHÁ BỎ


* GALANG MỘT THỜI - MỘT ĐỜI (Nguyễn Mạnh Trinh)


* GIÁNG NGỌC PHỎNG VẤN NHÀ THƠ THÁI TÚ HẠP VÀ NỮ SĨ ÁI CẦM VỀ LỄ KHÁNH THÀNH ĐTNTNVN


* GIỌT NƯỚC MẮT CHO NGƯỜI TÌM TỰ DO (Lê Đinh Hùng)


* HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT


*"HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG: TỰ DO, MỘT NHU CẦU THIẾT YẾU, ĐÁNG ĐỂ TA ĐI TÌM"


*HÀNH TRÌNH GIAN NAN TÌM TỰ DO  


* HÀNH TRÌNH TÌM CON NƠI BIỂN ĐÔNG


* HÌNH ẢNH MỚI NHẤT CHUẨN BỊ KHÁNH THÀNH VÀO THÁNG 04-2009


* HÒN ĐẢO BỊ LÃNG QUÊN (Meng Yew Choong)


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ VINH DANH ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ WESTMINSTER THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT “NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM”


* KHÁNH THÀNH ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI NAM CALI


* KHẮC TÊN TRÊN BIA TƯỞNG NIỆM (Việt Hải)


* LÀN SÓNG THUYỀN NHÂN MỚI


* LỄ ĐỘNG THỔ KHỞI CÔNG XÂY DỰNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* LỄ KHÁNH THÀNH TRỌNG THỂ ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI QUẬN CAM


* LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TỔ CHỨC TRANG NGHIÊM TẠI NGHĨA TRANG WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* LÒNG NHÂN ÁI (Tâm Hồng)


* LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG (Thơ Thái Tú Hạp)


* MEMORIAL TO BOAT PEOPLE WHO DIED TO BE DEDICATED SATURDAY


* MỘT CÁI GIÁ CỦA TỰ DO (Trần Văn Hương)


* MƠ ƯỚC "MỘT NGÀY TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN" ĐÃ TRỞ THÀNH SỰ THẬT


* NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM THỨ 5


* "NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM" TỔ CHỨC TRỌNG THỂ TẠI WESTMINSTER


* NGƯỜI PHỤ NỮ SỐNG SÓT SAU CHUYẾN VƯỢT BIỂN KINH HOÀNG


* NHỮNG CHUYỆN HÃI HÙNG CỦA THUYỀN NHÂN (Biệt Hải)


* NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT ĐỀU CÓ THẬT (Ngô Dân Dụng)


* NHỮNG THÁNG NGÀY YÊU DẤU NƠI HOANG ĐẢO (Tuấn Huy)


* NỖI BẤT HẠNH ĐỜI TÔI (Thùy Yên) 


* NỖI KHỔ CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Thy Vũ Thảo Uyên)


* NƯỚC MẮT CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Nguyễn Mỹ Linh)


* SAIGON TIMES PHỎNG VẤN MỤC SƯ HÀ JIMMY CILLPAM 4 NĂM CÓ MẶT TRÊN TÀU AKUNA CỨU HƠN 5000 NGƯỜI VIỆT NAM VƯỢT BIỂN TÌM TỰ DO TRÊN BIỂN ĐÔNG


* TÀU SẮT BẾN TRE (Tú Minh)


* THẢM KỊCH BIỂN ĐÔNG (Vũ Duy Thái)


* THẢM SÁT TRÊN ĐẢO TRƯỜNG SA


* THỊ XÃ WESTMINSTER VINH DANH TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN


* THÔNG BÁO CỦA ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VN


* THƠ LÀM KHI ĐỌC TIN THUYỀN NHÂN (Viên Linh)


* THUYỀN NHÂN: ẤN TÍCH LỊCH SỬ


* THUYỀN NHÂN VÀ BIỂN ĐỘNG


* THUYỀN NHÂN VÀ MỘT VÀI HÌNH ẢNH CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN


* THUYỀN NHÂN VIỆT NAM VƯỢT BIÊN, TỬ NẠN, ĐẾN BỜ TỰ DO ĐÃ GIÚP NHÂN LOẠI NHÌN RÕ ĐƯỢC CHÂN TƯỚNG CỦA CỘNG SẢN (Lý Đại Nguyên)


* TRÔI GIẠT VỀ ĐÂU (Nguyễn Hoàng Hôn)


* TRỞ VỀ ĐẢO XƯA... (Nguyễn Công Chính)


* TỪ TẤM BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN Ở GALANG NHÌN RA CON ĐƯỜNG HÒA GIẢI


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN VIỆT NAM ĐÃ CHÍNH THỨC ĐƯA VÀO WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN ĐÃ ĐƯỢC ĐẶT VÀO VỊ TRÍ AN VỊ TRONG KHUÔN VIÊN WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30-4-2012

* VĂN TẾ THUYỀN BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* VƯỢT BIỂN (Thanh Thanh)


* VƯỢT BIỂN MỘT MÌNH (Nguyễn Trần Diệu Hương)


* XIN VỀ ĐÂY CHỨNG GIÁM, AN GIẤC NGÀN THU


* XÓA DẤU VẾT TỘI ÁC (Phạm Phú Minh)


 Saigon Times USA

 

 

ĐƯỜNG VỀ  XA XĂM

VÀ NGUYỄN BÁ CHUNG

 

NGUYỄN MẠNH TRINH

 

Chiến tranh Việt Nam đã tàn từ ngày 30 tháng 4 năm 1975.Nhưng tới nay, vết thương hình như chưa liền miệng.Vẫn còn những hố sâu, từ đời sống thực tế đến đời sống văn chương. Từ những vị trí khác nhau,chiến tranh vừa qua được nhìn ngắm với những cảm quan khác nhau từ những đối cực rõ nét.

Những người chiến thắng ,dù có người đã nhìn lại cuộc chiến tranh như Bảo Ninh, Dương Thu Hương,… nhưng phần đông vẫn còn cái ý tưởng là đã tham dự một cuộc chống xâm lăng để gìn giữ độc lập cho đất nước. Văn học miền Nam thì bị bức tử từ những người miền Bắc. Những người miền Nam, một số di tản ra nước ngoài nhưng phần đông thì bị vào trại tù với thân phận của kẻ thất trận. Sau những biến cố chính trị ngột ngạt, đời sống bị sa sút đến cùng cực, một số người  bỏ xứ ra đi, lưu lạc  xứ người. Dần dần , lên tới cả hai triệu người  Việt ở tất cả mọi nơi trên thế giới.Từ những đợt di tản, vượt biên bằng đường bộ , đường thủy, đến những người ở Đông Au,…Những nỗi niềm tuy có khác biệt nhau nhưng yếu tính lưu vong vẫn là một nét chung mang cho tất cả những người Việt ở hải ngoại.

Những nét đặc thù cho một nền văn học đã hiện hữu. Ở Hoa Kỳ, Canada,  ÚC Châu, Đông Âu, hay Tây Â,…báo chí Việt ngữ đã phát triển đến mức không ngờ.   Phần đông đều là những ấn phẩm đẹp về hình thức và xúc tích về nội dung. Những tạp chí văn học có giá trị là nơi để văn chương phát triển. Những tuần báo, nhật báo, ngoài vị trí truyền thông còn là chỗ biểu hiện cho  nỗi niềm của những người đối kháng không chấp nhận chế độ đang cai trị trong nước.Những tác phẩm được trình làng là những đóng góp của từng cá nhân nhưng tạo được thành quả cho sự phát triển văn học. Qua nhiều thời kỳ, có lúc sôi nổi có lúc trầm lặng , nói chung những người Việt ở hải ngoại đã có sẵn  căn bản cho một nền văn học đúng nghĩa.

Chiến tranh, dù đã qua một thời gian dài nhưng vẫn để lại nhiều âm hưởng trong thời đại hiện nay. Những tâm sự  chẳng biết ngỏ cùng ai nay mượn bút mực để bày tỏ. Chiến địa ngày xưa,thuở trăng treo vó ngựa sao có lúc vẫn còn trong trí nhớ. Những địa danh một thời chẳng thể nào quên. Những người bạn đồng đội, giờ này ai còn ai mất? Những mênh mang tâm sự.Những u uẩn thế thời. Những mang nặng trên vai của những người thua trận. Hình như, bút mực đã sẵn sàng cho những giàn trải văn chương…

Có nhiều góc cạnh để nhìn ngắm nền văn học ở hải ngoại cũng như hai mươi năm văn học miền  Nam 1954-1975.  Những người Cộng sản  không bao giờ chấp nhận sự thực  và luôn luôn dùng mọi cách để bôi xóa đi . Trong trường học , những tác giả từ tiền chiến  cũng không được giảng dạy   trong chương trình giáo dục  nên học sinh đã quên đi cả một thời văn học đầy khai phá  thì với văn học miền  Nam làm sao các lớp trẻ có hiểu biết được . Thay vào đó , học sinh  được học là trong thời kỳ ấy ở miển Nam có những tên nhà văn nhà thơ ở trong bưng trong ruộng như Trần Bạch Đằng , Bảo Định Giang , Anh Đức , Giang  Nam,..Cũng như  khi viết về văn học hải ngoại , luôn luôn có giọng bỉ thử và luôn vẽ ra những nét u tối  bi quan .  Dù trước hay sau  đổi mới , hình thức có khác đi nhưng nội dung không đổi. Gần đây nhất , khi có phong trào in lại sách cũ , khi in lại bốn tác phẩm của nhà văn Dương Nghiễm Mậu thì bị phê phán tơi bời . Mà người nặng lời nhất lại là Vũ Hạnh , một người  a dua nhưng lại  sắt máu hơn cả những tay Cộng sản đầu sỏ . Một người đã sống ở chế độ VNCH , nhưng nằm vùng , đã bị bắt nhưng được can thiệp để thả , bây giờ là cái loa của những kẻ  vẫn còn  mang cái chiêu bài  đã hết thời  hấp dẫn.. Những cuốn  được in lại như  Đôi Mắt Trên  Trời , Cũng Đành, Nhan Sắc , Tiếng Sáo  Người Em Ut ,  của Dương nghiễm Mậu bị gán cho đủ thứ tội , nào là  viết về chủ tịch Hồ Chí minh với lời lẽ khiêu khích bịa đặt trắng trợn , nào xuyên tạc lịch sử , nào là  đào sâu vào bản chất của cuộc hiện sinh con người theo kiểu bất chấp lịch sử và quan hệ xã hội , nào thú vật hóa loài người .. Đó có phải là một phương cách kỳ thị  của một chính sách vẫn còn phân biệt địch thù , và không có một chút nào hòa giải hòa hợp hết…

Ở hải ngoại,  có những người vẫn còn mang cái tư tưởng phản chiến xưa kia  nên có những nhận thức sai lạc  và có những nhận xét không chính xác . Có thể , họ là những người may mắn , được  đi du học và không phải bị  ảnh hưởng của chiến tranh như những lớp trai trẻ cùng thời. Mang cái tâm không thẳng thắn , họ nhìn  ngắm những sự kiện  rồi giải thích theo ý riêng mình.

Viết về văn học Việt Nam, trong những hoàn cảnh lịch sử đặc biệt , có lẽ cần thiết cái tâm trong sáng. Nếu không ,  sẽ có những bất cập thiếu xót to lớn .   Và , những hậu quả  ấy sẽ ảnh hưởng đến đời sau .   Ở trong nước , một  cô giáo tốt nghiệp đại học  trong một cuộc đố vui kiến thức  đã không biết đến những nhà văn của Tự Lực Văn Đoàn  khi được hỏi khi mà học sinh đệ nhất cấp của miền Nam cũng dễ dàng biết đến . Thử tưởng tượng, với sự bóp méo thiên lệch, thì sai sót ấy sẽ tác hại biết bao nhiêu?

Gần đây , có một bài viết của tác giả Nguyễn Bá Chung viết về văn học Việt Nam đã gây ra nhiều phản ứng . Đó là bài viết “ The Long Road Home: Exile , Self -Recognition , and Reconstruction “ (Con đường xa xăm: lưu vong,  tự xét  mình và tái cấu trúc) đăng trên  tạp chí Manoa.

Tôi không biết nhiều về tác giả  Nguyễn Bá Chung.  Thỉnh  thoảng tôi có đọc bài viết của ông  đăng rải rác và tôi cũng chẳng để ý nhiều. Đại khái , tôi biết ông xuất thân từ miền  Nam , được đi du học và ở ngoại quốc đến  bây giờ  .  Có lần , tôi đọc một bài viết bằng Anh  ngữ của ông  giới thiệu tập thơ của Nguyễn Duy trong đó có kể một số tên tuổi thi sĩ  Việt Nam  nhưng lại thiếu những tên tuổi của văn học miền Nam và văn học hải ngoại trong khi thừa những tên tuổi thi sĩ “ luc lục thường tài “  khác. Cái sơ sót ấy không phải vô tình mà là một sự cố ý rõ ràng không phủ nhận được. Và cũng chính Nguyễn Bá Chung , một người làm thơ đã mô tả một  thế hệ di tản thật nhiều ác ý . Bài thơ  nhan đề Di Tản:

 

Là mảnh vụn của sỏi đá

là giọt nước của ao tù

là tia nắng cuối cùng mong manh

là viên đạn lép

cuối lòng súng rỉ

là ngôn ngữ bất lực

 

của tháng ngày bất lực

là vết bầm cuối cùng

của cuộc nội thương

là vết rêu của sỏi đá

 là hơi sương trên ao tù

là tia nắng cuối đời mong manh

 là viên đạn lép

không bao giờ bắn nữa

là ngôn ngữ khởi đầu

khi tiếng bom chấm dứt

là những gì đọng lại

sau cơn động đất cuối mùa.”

 

Đọc bài thơ ấy , ai có thể nghi rằng tác giả của nó se có  cái  tâm thẳng thắn khi nhận định về nền văn chương khởi từ những người di tản ? Thành ra , viết một bài như” The  Long Road Home: Exile , Self- Recognition, and Reconstruction “  cũng là hệ quả tất yếu của  suy tư ấy , tính tình ấy. ..

Mang những lời nhạc của Trịnh Công Sơn mở đầu bài viết của mình , Nguyễn B á Chung muốn mang cái  cảm xúc  của một thời để nói về hiện trạng bây giờ . Bài viết gồm nhiều tiểu đoạn:  A Call of Conscience,  A Class of worlds and Worldviews, Cultural Discontinuities, Self-Recognition and Reconstruction, Cultural Convergences. Ơ trong trình tự của  bài viết, Nguyễn Bá Chung  muốn phác họa lại tình cảnh của những người cầm bút Việt nam trong hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử .  Với  suy tư của riêng  mình , ông đã đem những câu nói hoặc trích đoạn của các nhà văn như Mai Thảo , Võ Phiến để hậu thuẫn cho luận cứ .

Nguyễn Bá Chung  cho  rằng tình trạng hận thù  giữa người Việt Nam với nhau vẫn còn , giữa người  miền Bắc và người miền  Nam , giữa người trong nước và ở hải ngoại. Thực tế,  trong đại đa số dân chúng, không hề có sự hận thù lẫn nhau. Người hải ngoại vẫn gửi tiền về giúp đỡ người trong nước  và người miền Bắc hay miền Nam  không hề thù hận nhau vì họ bị chịu cùng chung  sự cai trị khắc nghiệt và tàn bạo của chính quyền  của đảng Cộng sản.  Nếu có thù hận , thì chỉ là  giữa  người  gây tội ác và nạn nhân.  Những người bị cướp nhà cướp đất , bị đẩy vào những cuộc ra đi mà mạng sống mong manh trên biển cả, bị gia đình tan nát thì hận thù ấy chính đáng chứ không phải là  cố chấp nuôi hận thù .  Người miền Nam bị chiếm đất chiếm ruộng biểu tình ở  Cần Thơ hay Sài gòn  thì cũng giống như người   dân  miền Bắc biểu tình ởThái Bình , ở vườn hoa  Mai Xuân Thưởng, Hà nội  . 

Đành rằng , văn chương không phù hợp với thù hận , và không chấp nhận thiên kiến. Nhưng ,  nếu cứ kêu gọi hòa giải hòa  hợp giữa kẻ  chủ động gây ra  tội ác  dùng quyền lực của mình  thì có khác nào  tạo cái hòa hợp giữa  con  cáo và  chú gà .  Nếu ở trong nanh vuốt thì ăn tươi nuốt sống ngay nhưng  khi chú gà  được ở trong lồng , được bảo vệ thì con cáo lân la kết hòa để chờ cơ hội hạ thủ . Chính quyền trong nước sao không hòa giải hòa  hợp với những người cầm bút còn ở trong nước  và còn bị   kiềm chế mà cứ đòi hòa giải hòa hợp với những người ở hải ngoại. Có phải vì trong mưu đồ hậu ý nào đó chứ không phải thiện tâm muốn đoàn kết dân tộc để xây dựng đất nước. 

Nhận xét về cuộc chiến tranh đã qua , Nguyễn Bá Chung có những nhận xét khá kỳ lạ.  Nói về những người  viết miền Nam mà ông cho rằng đã rút vào thành phố  đẩ có dù che an toàn và  có thể quay mặt được với cuộc chiến khốc liệt đang diễn ra ở nông thôn.  Họ không thể tán đồng với chính phủ miền Nam trong cuộc chiến và cũng không dám dấn thân vào bưng theo phe Cộng Sản nên đã có thái độ  mà ông gọi là “ nonconformity and doubt”(bất định hướng và hoài nghi).

Điều ấy có chính xác không ? Trước hết , không có một ai trai trẻ ở miền Nam tránh được nhiệm vụ quân sự ngoài những người  đặc biệt được ấn định bởi luật pháp . Hầu như đa số phải nhập ngũ và tham dự cuộc chiến . Chỉ có một số   ít  trốn lính bất phục tòng hoặc những người  được xuất ngoại (có thể vì học giỏi hoặc con ông cháu cha) may mắn như trường hợp ông Nguyễn Bá Chung.  Những người cầm bút    cũng giống như mọi người nên không có chuyện  ở trong thành  phố  để trốn tránh cuộc chiến .  Văn học miền Nam thì đa dạng, không phải chỉ có chiến tranh và kêu gọi chém giết như văn học miền Bắc nên có tình trạng  nhiều đề tài xen kẽ nhau , tình yêu , chiến tranh , và cả chống chiến tranh, triết lý hiện sinh , hoài nghi , vô chính phủ…

 Còn  tính chất cuộc chiến , thì  có lẽ cả thế giới đã bị lừa gạt bởi những chiêu bài che dấu  ý định bành trướng và xâm lược của miền Bắc .  Có sống với Cộng sản , mới hiểu được những mánh khóe thủ đoạn tuyên truyền  của một chế độ độc tài  toàn trị. 

Nguyễn Khắc Toàn , một người  đã rời ghế nhà trường vượt Trường Sơn  vào  Nam chiến đấu đã viết:

“.. Mô hình chế độ chính trị Nhà Nước Việt Nam Cộng Hòa  trước đây, khi ở miền Băc 1tôi đã được tuyên truyền  rằng đó là một loại hình thức chủ nghĩa thực dân kiểu mới  do Đế quốc Mỹ dựng lên và làm bàn đạp để tiến công miến Bắc và phe XHCN  do Liên Xô và Trung Quốc là những nước đứng đầu.  Và các cơ quan tuyên truyền của miền Bắc  còn nói về kinh tế , miền Nam Việt Nam  là thị trường để tiêu thụ hàng hóa tư bản ế thừa  của các nước phương Tây.  Đây cũng là nơi Mỹ và các đế quốc nước ngoài vơ vét tài nguyên bóc lột sưc 1lao động rẻ mạt của nhân dân Về văn hóa , xã hội , giáo dục .. thì mảnh đất màu mỡ ở miềnNam Việt Nam là nơi để gieo mầm nô dịch của đế quốc , ngoại bang nảy nở phát triển . Trên báo đài  phát thanh sách vở giao 1khoa dạy trong các trường học ở miền Bắc thì đầy dẫy những tuyên truyền về một nhà tù lớn , một trại tập trung khổng lồ. Ở nông thôn htì nông dân bị kềm kẹp trong ấp chiến lược với lớp lớp hàng hàng rào dây thép gai bao quanh, với nhiều chòi canh có lính canh với sáng đạn tối tân canh gác đêm ngày..

Nhưng trên thực tế , khi tôi đã tiếp xúc với rất nhiều người bà con gia đình hai bên nội ngoại  rời quê hương miền Bắc vào miền Nam từ sau hiệp định Giơ-ne –vơ 1954. Q ua việc đó , tôi đã có nhận thưc 1rất khác về đời sống xã hội , kinh tế , và chế độ chính trị ở miềnNam  1975. Đó là một xã hội mà cuộc sống nhân dân được hưởng nhiều cởi mở và tự do. Người dân từ nông thôn đến thành thị được sống tự do dân chủ , được hưởng rất nhiều   quyền của con người hơn như : có tự do báo chí, tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do biểu tình- mít ting hội họp, tự do sinh hoạt đảng phái chính trị, tự do xuất dương và cư trú trong nước, tự do ứng cử và bầu cử.

.. Bi kịch lớn của dân tộc ta , tổ quốc ta là ở chỗ cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn  tạo ra núi  xương sông máu của nhân dân cả nước nhằm hủy diệt một chế độ đa đảng  dân chủ một nền kinh tế thị trường đã từng tồn tại ở miền nam trước năm 1975 mà giờ đây chúng ta lại phải đang đấu tranh để được đi lại đúng con đường này.”

Không biết ông Nguyễn bá Chung có đọc bài viết của tác giả Nguyễn Khắc Toàn không ? và không hiểu ông có thay đổi những luận cứ của mình ?

Hình như Nguyễn Bá Chung có thừa nhận tình trạng tụt hậu của đất nước sau năm 1975 . Nhưng ông lại có một nhận xét là chỉ có những người ở thành thị quen ăn sung mặc sướng mới bị ảnh hưởng còn những người dân ở nông thôn  quen với bom đạn nên bây giờ hòa bình là vui sướng rồi và  bằng lòng với cuộc sống mới . Nguyễn Bá Chung viết:

"After the war , in the period from 1975 to 1986, when the country went into steep economic decline, it was  a hellish fall to most  people in the South but particularly for those who lived in the city. In contrast , for those who had survived constant  hunger and want in the jungle during the war, such subsistence living was preferable to what they had endured. The resulting clash was therefore not simply of ideologies, but of two  altogether different worlds in which the very meaning of language  was in dispute. In one world, to be abble to live in peace to have food to eat( regardless of how simple  or meager) and clothes to wear and to rest one’s head in an above ground shelter were achievements and were among the sweet freedoms enjoyed by those  who had survived. In the other wirld. Those who had lived in relative comfort were now preocupied with defeat and the loss of those individual freedoms that had come with life in a urban society..”

Tam dịch (sau chiến tranh, trong thời kỳ 1975-1986, khi kinh tế đất nước bị  suy đồi  thê thảm,  một sự tuột dốc nặng nề  cho đa số dân chúng miền Nam, mà đáng kể là những cư dân ở thành phố. Ngược lại,  với những người luôn luôn trải qua đói khát và ham muốn ở trong rừng khi còn cuộc chiến, thì cuộc sống dù thiếu thốn nhưng còn dễ chịu hơn những ngày họ đã chịu đựng.  Kết quả đối nghịch không chỉ giản dị thuần lý, nhưng còn là  hai thế giới  sinh sống khác biệt nhau mà ngay chính cả ngôn ngữ  của suy nghĩ cũng xa lạ nhau . Ở một thế giới,  được sống trong an bình ,  có thực phẩm để ăn ( dù thanh đạm hoặc không ngon miệng) có quần áo để mặc và được nghỉ ngơi trên mặt đất là một tiến triển rồi và là  tự do ngọt ngào  hưởng thụ từ những người còn sống sót.  Ở một thế giới khác , những người đã quen sống tiện nghi, nay lại bị bao vây bởi sự thua trận và đánh mất tự do cá nhân trong cuộc sống từ một xã hội tân tiến..)

Không hiểu ông Nguyễn Bá Chung có phải “ người đi trên mây” không khi viết như thế? Sống ở Việt Nam  thời kỳ 1975-1986 , mới hiểu được sự công phẫn bất bình của người dân như thế nào. Càng có gốc gác  cách mạng , càng chửi bới dự tợn . Những bà  già  từng đào hầm che dấu cán bộ đảng, từng tiếp tế  cho chiến khu , từng là gia đình liệt sỹ, đã có phản ứng mạnh mẽ hơn  cả  dân chúng thành  phố nữa. Năm 1980 , tôi về xã  Tiệm Tôm huyện Ba Tri  tỉnh Bến  Tre để tính vượt biên  bằng cửa Bình Đại.  Ơ đây , tôi đã thấy những dân cách  mạng thứ thiệt phản ứng ra sao trước những cảnh bất công tham nhũng, dân tình đói nghèo  , ngăn sông cấm chợ , thuế má nặng nề ,  cán bộ ức hiếp dân chúng. Những bà má chiến sĩ ,  đã góp công góp của cho chế độ để thành danh ‘Quê Hương Đồng Khởi “ nay chửi rủa tàn tệ , gọi những ủy ban hành chính xã , huyện  này là quỷ nọ , quỷ kia(  người địa phương đọc hai chữ ủy và quỷ giống nhau nên huyện ủy , xã ủy là xã quỷ , huyện quỷ ) .  Mà đám cán bộ thì trước kia thường được giúp đỡ nên không  dám phản ứng gì…

Và người vượt biển  đâu phải chỉ riêng người thành phố , mà người ở thôn  quê  cũng  bị đẩy vào hoàn cảnh phải đi cũng không ít. Nếu bằng lòng , quen với khổ cực , thì lao đầu vào biển cả đem sinh mạng của mình giỡn đùa với nguy hiểm làm  chi ?

 Đọc “  The Long Road Home: Exile, Self- Recognition, and Reconstruction”  của Nguyễn Bá Chung  , tôi cũng  thấy  tác giả  có đường về xa xăm thực! Sẽ diệu vợi biết bao  cho đường về cội nguồn dân tộc nếu vẫn còn giữ những thiên kiến của thời phản chiến  khi mà sự chống đối chiến tranh được coi là một mốt thời thượng. Thực tế của  Việt nam đầu thế kỷ  21  đã không còn thích hợp với những lý luận  một chiều  nhằm phục vụ cho những âm mưu của bạo quyền muốn bôi xóa sự thực và sửa đổi lịch sử.  Tôi khâm phục biết là bao nhiêu những người như   nhà văn Nguyễn Hiến Lê viết hồi ký trung thực phê phán chế độ dù trước đó ông tỏ ra rất có cảm tình với những người cộng sản mà ông gọi là “những người kháng chiến “.

Đường về xa xăm . Ôi sao buồn như một điệp khúc  của ca từ Trịnh Công Sơn , của những  suy tư lạc lõng ,của một cuộc chiến vô nghĩa và vô lý…