Saigon Times


Menu



Đài Tưởng Niệm

Thuyền Nhân

Việt Nam

Tiếp Theo...

* CẦU NGUYỆN VÀ TƯỞNG NIỆM NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM 2016 TẠI NAM CALI


* 40 NĂM QUỐC HẬN LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN, BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* 30 THÁNG TƯ, TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* BI SỬ THUYỀN NHÂN (Nguyễn Quốc Cường)


* BIỂN ĐÔNG LỤC BÌNH TRÔI


* CÁI GIÁ CỦA TỰ DO


* CÁNH BÈO BIỂN CẢ (Văn Qui)


* CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ CON TÀU MANG SỐ MT065


* CẦU SIÊU BẠT ĐỘ TẠI ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM WESTMINSTER


* CHUYỆN KỂ HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG (Nhiều Tác Giả)


* CHỨNG TÍCH ĐỂ ĐỜI: ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* CHUYẾN VƯỢT BIÊN ĐẪM MÁU (Mai Phúc)


* CHUYẾN VƯỢT BIỂN HÃI HÙNG


* CON ĐƯỜNG TÌM TỰ DO (Trần Văn Khanh)


* CÒN NHỚ HAY QUÊN (Nguyễn Tam Giang)


* DẠ TIỆC VĂN NGHỆ "LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG" THÀNH CÔNG NGOÀI DỰ KIẾN CỦA BAN TỔ CHỨC


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Việt Hải)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TẠI QUẬN CAM (Vi Anh)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM: BIỂU TƯỢNG THIÊNG LIÊNG CỦA NIỀM KHÁT VỌNG TỰ DO VÀ NHÂN QUYỀN


* ĐÊM DÀI VÔ TẬN (Lê Thị Bạch Loan)


* ĐI VỀ ĐÂU (Hoàng Thị Kim Chi)


* GALANG: BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM BỊ PHÁ BỎ


* GALANG MỘT THỜI - MỘT ĐỜI (Nguyễn Mạnh Trinh)


* GIÁNG NGỌC PHỎNG VẤN NHÀ THƠ THÁI TÚ HẠP VÀ NỮ SĨ ÁI CẦM VỀ LỄ KHÁNH THÀNH ĐTNTNVN


* GIỌT NƯỚC MẮT CHO NGƯỜI TÌM TỰ DO (Lê Đinh Hùng)


* HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT


*"HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG: TỰ DO, MỘT NHU CẦU THIẾT YẾU, ĐÁNG ĐỂ TA ĐI TÌM"


*HÀNH TRÌNH GIAN NAN TÌM TỰ DO  


* HÀNH TRÌNH TÌM CON NƠI BIỂN ĐÔNG


* HÌNH ẢNH MỚI NHẤT CHUẨN BỊ KHÁNH THÀNH VÀO THÁNG 04-2009


* HÒN ĐẢO BỊ LÃNG QUÊN (Meng Yew Choong)


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ VINH DANH ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ WESTMINSTER THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT “NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM”


* KHÁNH THÀNH ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI NAM CALI


* KHẮC TÊN TRÊN BIA TƯỞNG NIỆM (Việt Hải)


* LÀN SÓNG THUYỀN NHÂN MỚI


* LỄ ĐỘNG THỔ KHỞI CÔNG XÂY DỰNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* LỄ KHÁNH THÀNH TRỌNG THỂ ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI QUẬN CAM


* LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TỔ CHỨC TRANG NGHIÊM TẠI NGHĨA TRANG WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* LÒNG NHÂN ÁI (Tâm Hồng)


* LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG (Thơ Thái Tú Hạp)


* MEMORIAL TO BOAT PEOPLE WHO DIED TO BE DEDICATED SATURDAY


* MỘT CÁI GIÁ CỦA TỰ DO (Trần Văn Hương)


* MƠ ƯỚC "MỘT NGÀY TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN" ĐÃ TRỞ THÀNH SỰ THẬT


* NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM THỨ 5


* "NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM" TỔ CHỨC TRỌNG THỂ TẠI WESTMINSTER


* NGƯỜI PHỤ NỮ SỐNG SÓT SAU CHUYẾN VƯỢT BIỂN KINH HOÀNG


* NHỮNG CHUYỆN HÃI HÙNG CỦA THUYỀN NHÂN (Biệt Hải)


* NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT ĐỀU CÓ THẬT (Ngô Dân Dụng)


* NHỮNG THÁNG NGÀY YÊU DẤU NƠI HOANG ĐẢO (Tuấn Huy)


* NỖI BẤT HẠNH ĐỜI TÔI (Thùy Yên) 


* NỖI KHỔ CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Thy Vũ Thảo Uyên)


* NƯỚC MẮT CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Nguyễn Mỹ Linh)


* SAIGON TIMES PHỎNG VẤN MỤC SƯ HÀ JIMMY CILLPAM 4 NĂM CÓ MẶT TRÊN TÀU AKUNA CỨU HƠN 5000 NGƯỜI VIỆT NAM VƯỢT BIỂN TÌM TỰ DO TRÊN BIỂN ĐÔNG


* TÀU SẮT BẾN TRE (Tú Minh)


* THẢM KỊCH BIỂN ĐÔNG (Vũ Duy Thái)


* THẢM SÁT TRÊN ĐẢO TRƯỜNG SA


* THỊ XÃ WESTMINSTER VINH DANH TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN


* THÔNG BÁO CỦA ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VN


* THƠ LÀM KHI ĐỌC TIN THUYỀN NHÂN (Viên Linh)


* THUYỀN NHÂN: ẤN TÍCH LỊCH SỬ


* THUYỀN NHÂN VÀ BIỂN ĐỘNG


* THUYỀN NHÂN VÀ MỘT VÀI HÌNH ẢNH CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN


* THUYỀN NHÂN VIỆT NAM VƯỢT BIÊN, TỬ NẠN, ĐẾN BỜ TỰ DO ĐÃ GIÚP NHÂN LOẠI NHÌN RÕ ĐƯỢC CHÂN TƯỚNG CỦA CỘNG SẢN (Lý Đại Nguyên)


* TRÔI GIẠT VỀ ĐÂU (Nguyễn Hoàng Hôn)


* TRỞ VỀ ĐẢO XƯA... (Nguyễn Công Chính)


* TỪ TẤM BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN Ở GALANG NHÌN RA CON ĐƯỜNG HÒA GIẢI


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN VIỆT NAM ĐÃ CHÍNH THỨC ĐƯA VÀO WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN ĐÃ ĐƯỢC ĐẶT VÀO VỊ TRÍ AN VỊ TRONG KHUÔN VIÊN WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30-4-2012

* VĂN TẾ THUYỀN BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* VƯỢT BIỂN (Thanh Thanh)


* VƯỢT BIỂN MỘT MÌNH (Nguyễn Trần Diệu Hương)


* XIN VỀ ĐÂY CHỨNG GIÁM, AN GIẤC NGÀN THU


* XÓA DẤU VẾT TỘI ÁC (Phạm Phú Minh)


 Saigon Times USA

 

 

ĐI TÌM ĐƯỜNG BAY

ƯU VIỆT CỦA THI CA

 

THÁI TÚ HẠP

 

 

Qua những nguồn tài liệu sưu tập tham khảo từ những quyển sách Thi Nhân Việt Nam của Hoài Chân Hoài Thanh_Thi Ca Việt Nam Hiện Đại của Trần Tuấn Kiệt-Tổng Quan Văn Học Miền Nam của nhà văn Võ Phiến-Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến do Trần Hoài Thư chủ trương...Những bài viết của các nhà văn, nhà thơ, trên các tạp chí Văn học trong nước và hải ngoại. Tác Giả Việt Nam, sưu tập của Luân Hoán. Chúng ta chỉ tính từ thời điểm khi bài thơ Tình Già của Phan Khôi được xem như một tuyên ngôn khai sinh thơ mới hiện đại Việt Nam xuất hiện đầu tiên trên Phụ Nữ Tân Văn Số 132 vào ngày 10 tháng 3 năm 1932_Saigon.

Trong khoảng thời gian gần nửa thế kỷ nếu tính từ năm 1932 đến năm 1975 căn cứ theo những nguồn tài liệu nêu trên chúng ta có thể ước tính số lượng thi sỹ có những bài thơ được tuyển chọn lên đến vài trăm người được đánh giá "trăm hoa đua nở" vì thế với thời lượng quy định của ban tổ chức yêu cầu quả thật khó khăn để chọn một số bài thơ hay của ba miền đất nước thân yêu. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ cố gắng nêu lên vài nhà thơ tiêu biểu qua hai điều kiện đã được đãi lọc thử thách qua thời gian cũng như sự thẩm định yêu thích của đa số quần chúng một cách khách quan và tương đối. Trước khi bước vào sự việc thẩm định thế nào là một bài thơ hay? Và địa vị của thơ trong Văn Học Việt Nam. Chúng tôi xin đan cử một vài kinh nghiệm về thơ của nhà giáo Nguyễn Sỹ Tế: "Thơ là một ngành nghệ thuật ngôn ngữ khó khăn vào bậc nhất. Thơ dễ vào mà khó ra. Làm thơ thật là dễ, nhưng làm thơ cho hay lại là thật khó. Thơ là một siêu nghệ thuật về ngôn ngữ. Ngôn ngữ là một cái thiên tài sáng tạo của một dân tộc. Ngôn ngữ của thi ca là một thứ ngôn ngữ siêu đẳng xôn xao âm hưởng và ấm áp sâu đậm sắc màu. Nắm được con ngựa thần bất kham chúng ta đã có điều kiện căn bản để trở thành một bài thơ hay rồi vậy!".

Trong tiến trình văn học Việt Nam chưa bao giờ dân tộc lại sản sinh ra nhiều nhà thơ như trong thời điểm vài ba thập niên vừa qua cũng như hiện nay từ trong nước đến hải ngoại. Chúng ta bị ảnh hưởng sâu xa về phát biểu của Ngô Thời Nhậm: "Việt Nam đáng hãnh diện là một nước thơ. Và mỗi người Việt nam là một thi sĩ...". Chỉ có thể đúng một phần qua nhận định ở lớp bình dân sáng tạo những giòng văn học mang tính nhân gian trong sinh hoạt của đời sống thường nhật. Hay vì tâm lý muốn được người đời gọi mình là thi sỹ. Chính từ những tư duy thiếu khiêm tốn nên rất khó đồng thuận hợp nhất tiêu chuẩn đi tìm đường bay tuyệt đỉnh của thi ca. Trong cuốn Thi Nhân Việt Nam của Hoài Chân_Hoài Thanh cũng chưa phải là một nhà phê bình hoàn hảo đáng tin cậy mặc dù hai ông được giới trí thức đánh giá nhiều ưu điểm giới thiệu trên 40 nhà thơ với mấy trăm bài thơ đính kèm. Tuy nhiên  Hoài Chân_Hoài Thanh vẫn không thoát ra những thành kiến khắt khe đối với thi sĩ Đinh Hùng, Nguyễn Bính, Vũ Hân,  một số nhà thơ khác và nhóm Xuân Thu Nhã Tập....mặc dù cho đến nay đã hơn nửa thế kỷ qua ở hải ngoại vẫn có nhiều người còn thuộc thơ Nguyễn Bính yêu thơ Đinh Hùng...Từ suy nghiệm này chúng tôi đề cập đến trường hợp vua Tự Đức sáng tác rất nhiều thi phẩm nhưng chỉ được nhân gian nhắc đến bài thơ "Khóc Bằng Phi" với hai câu cuối cùng: "Đập cổ kính ra tìm lấy bóng/Xếp tàn y lại để dành hơi...

Quá tuyệt vời và tôn vinh ông là một nhà thơ lẫy lừng trong thi đàn Việt Nam. Một trường hợp điển hình khác chúng tôi muốn đan cử đến bài thơ "Cáo Tật Thị Chúng" của thiền sư Mãn Giác với hai câu cuối bài:

"Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận/Đình tiền tạc dạ nhất chi mai/... Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết.../Đêm qua sân trước một cành mai..."

Hai câu cuối đã vượt trội xuất sắc, mang tư tưởng nhân sinh quan hiện thực, tăng giá trị bài thơ và được thẩm định là một bài thơ hay vượt qua thời gian. Cũng như trường hợp chỉ mấy câu thơ của dũng tướng Lý Thường Kiệt trước quân nhà Tống phương Bắc cũng đủ nói lên ý chí của người quân tử nước Nam: "Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư/Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/Như Hà nghịch lỗ lai xâm phạm/Nhử đẳng hành khan thủ bại hư....Sông Núi nước Nam vua Nam ở/Rành rành định phận tại sách Trời/Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.." đã trở thành một bài thơ tuyệt tác lưu truyền cả ngàn năm trong lịch sử. Những nhà phê bình thi ca chưa hẳn có một thần trí siêu việt dễ thấu triệt những ẩn ý sâu xa bài thơ của mỗi thi sĩ như sự nhạy cảm tuyệt vời giữa Bá Nha với Chung Tử Kỳ nên đôi khi cảm nhận bài thơ có thể lạc hướng về cái nhìn chủ quan. Qua tài liệu của Hoàng Duy Từ "Đường Thi Tuyển Dịch" chúng tôi khám phá câu chuyện lý thú về thi ca. Nhân vật tiêu biểu đại thi hào Tô Đông Pha đã dám cậy tài làm thơ sửa thơ Tể Tướng Vương An Thạch cũng là một nhà thơ lừng lẫy vào đời nhà Tống bên Trung Hoa. Có một ngày đẹp trời Tô Đông Pha ghé đến thư phòng của Vương An Thạch nhìn lên vách thấy có hai câu thơ:

"Minh Nguyệt sơn đầu khiếu/Hoàng Khuyển ngọa hoa tâm"

Tô Đông Pha chê là vô lý bởi vì:

"Trăng sáng sao lại hót ở đầu núi?/Chó vàng sao lại nằm giữa lòng hoa?"

nên lấy bút sửa lại:

"Minh nguyệt sơn đầu chiếu/Hoàng khuyển ngọa hoa âm"

với ý nghĩa: " Trăng chiếu ở đầu núi"/ "Chó vàng nằm dưới hoa".

Sửa xong Tô Đông Pha cảm thấy đắc ý và cảm nghĩ cho dù Vương An Thạch tuy là tể tướng nhưng chưa chắc tài làm thơ hơn mình. Sau đó một thời gian Tô Đông Pha có tội với triều đình nên bị đày ải đến nơi rừng thiêng nước độc.  Một hôm vào mùa xuân dạo trong rừng nghe tiếng chim hót rất hay mới hỏi dân địa phương cho biết "Tiếng chim hót hay đó có tên là Minh Nguyệt và loài sâu chuyên tìm ăn ngụy hoa có tên là Hoàng Khuyển..." Tô Đông Pha giật mình tỉnh ngộ và ân hận về sự thiếu hiểu biết và sự ngạo mạn lố bịch của mình.

Xuyên qua sự kiện vừa dẫn chứng chúng ta nên suy ngẫm về sự thẩm định đánh giá một bài thơ hay có tính cách chủ quan không hiểu sâu nghĩa lý là một sự lầm lỡ đáng tiếc.

TIÊU CHUẨN VỀ MỘT BÀI THƠ HAY

Bởi vậy, chúng ta rất khó phân biệt để cùng đồng ý MỘT BÀI THƠ NHƯ THẾ NÀO CHO LÀ HAY và MỨC ĐỘ HAY CỦA MỘT BÀI THƠ? Chúng tôi xin trích dẫn qua một số nhà thơ, phát biểu chân thật về nguyên nhân sáng tạo nên những tác phẩm thi ca của họ. Đó cũng là ý niệm tốt để giúp cho chúng ta thẩm định giá trị một bài thơ hay.

1. Nhà thơ Nguyên Sa(Đã từ trần)

...Làm thơ, với tôi, bao giờ cũng cần có cảm hứng, có cảm hứng mới làm được bài thơ đắc ý, không có cảm hứng thì chịu thua. Cảm hứng đưa tôi vào thơ, thời gian này, cũng như hơn bốn thập niên, luôn luôn đến từ sự xúc động chân thực. Có rung động thực và rung động giả, cho nên có cảm hứng thực vả cảm hứng giả. Lúc hai mươi tuổi, đam mê tình ái mang thơ lại cho tôi. Tôi nghĩ thơ tình thời học trò mà tôi nói chuyện suy tư về hữu thể và hư vô là xúc động giả, sâu xa giả, thơ làm dáng không phải thơ. Khi tuổi già đã tới, không còn đam mê tình ái, cánh cửa của tuổi đời sắp khép lại. Những xúc động của những ngày tháng đối diện với sự thật của kiếp người, một cuộc tình hồi tưởng lại, một cuộc tình mơ ước, giọt sương mai mong manh, cơn mưa đến muộn, buổi hoàng hôn nơi quê người, người bạn thâm niên bỏ xứ vĩnh viễn...là nguồn cảm hứng thật hôm nay của tôi.

(Trả lời nhà văn Nguyễn Anh Nam tạp chí Văn số 13 & 14, Xuân Mậu Dần 1998)

2. Nhà thơ Đỗ Quý Toàn(Hoa Kỳ)

Nếu phải xếp hạng thứ thơ nào tôi thích hơn, thì tôi sẽ xếp theo thứ tự như sau:

1/Thơ hay tự nhiên là thứ nhất

2/Thơ hay và khéo cũng tốt

3/Thơ hay mà không khéo thì dễ thương

4/Thơ khéo không thôi thì hơi thường

5/Thơ khéo mà không hay xin miễn

Nói xếp hạng cho vui, chứ mỗi người sẽ nhận diện cái khéo và cái hay một cách khác nhau. Có những câu thơ nghe rất tự nhiên nhưng chỉ người làm thơ mới biết đã mất bao lần gọt giũa mới thành. Độc giả không cùng một kinh nghiệm thẩm mỹ, không được đào luyện trong các lò ngôn ngữ như nhau, thì cách thưởng thức sẽ khác nhau. Có những lời tự nhiên thanh thoát ở đời này, sang đời khác lại có vẻ cầu kỳ, không thích hợp.

...

Tôi đề nghị chúng ta nên đọc thơ như thể mình đang sáng tạo. Vừa đọc vừa mở ra một thế giới, trong đó lời và cảm thọ do lời gây ra được tự do phát triển. Ta đọc lại như đọc lần đầu, khám phá bài thơ một lần nữa để tìm cảm xúc mới.

 (Tìm Thơ Trong Tiếng Nói của Đỗ Quý Toàn)

3. Nhà Thơ Luân Hoán (Canada)

Thơ hay chính là thơ mới. Theo tôi nghĩ nên làm mới thi ca, nhưng làm mới như thế nào, ra sao thì tôi đang dọ dẫm thí nghiệm, chưa đạt được kết quả nào. Điều cần thiết là phải làm cách nào để cho cái mới đó có hồn, có vía đàng hoàng, phổ biến được đón nhận rộng rãi. Tuy nhiên kỹ thuật và hình thức là những điểm tất yếu phải có của một bài thơ. Nhưng nếu chú trọng quá đáng, có lẽ loãng bớt nội dung, đó là chưa kể nếu quá màu mè, bài thơ lại dễ biến ra một họa phẩm siêu thực...

(Trích Đặc San Quảng Đà năm 1999. Phỏng vấn của Nguyễn Mạnh Trinh)

4. Nhà thơ Tô Thùy Yên

Đối với tôi thực sự làm thơ không khó, làm thơ hay mới là chuyện khó, rất khó. Khó đến độ nhiều khi từ cái ý muốn khởi đầu cho đến khi hoàn tất bài thơ, không tưởng tượng mình có thể đạt tới được ngoài trí lực của mình. Nói chung làm bất cứ việc gì trong bất cứ lĩnh vực nào mà làm cho tốt làm cho hay thật là khó, rất khó, chớ làm lơ mơ, bất kể, được chăng hay chớ thì ai làm chẳng được. Một bài thơ có hồn mới chuyển đạt xúc cảm đến người khác...

5. Nhà thơ Yên Thao(Hà Nội-Việt Nam)

Tác giả bài thơ "Nhà Tôi" nổi tiếng.

Hiện nay rất nhiều người làm thơ nhưng thơ hay thì hiếm. Thơ tình yêu lạm phát. Không nên nghĩ tình yêu là tất cả của thơ và thơ chỉ viết về tình yêu lứa đôi.

Thơ là tinh hoa của tiếng nói, tiếc có những bài thơ từ ngữ quá trần truồng, thô kệch, song lại được các báo chí đăng tải như một cái gì mới mẻ, dám nghĩ dám viết(?!!).

 

Gom từng hạt bụi phấn

góp từng phân tử đường

con ong làm nên mật

cho cuộc đời lên hương

 

người làm thơ chúng ta

hơn con ong cần mẫn

càng phải biết chọn hoa

đừng làm ra mật đắng!

6. Nhà thơ Hoàng Hương Trang (Huế-Việt Nam)

Thơ hiện nay nhiều người làm, số lượng thi sĩ đông đảo hơn bao giờ hết, số lượng thơ cũng rất nhiều. Nhưng những bài thơ đi sâu vào lòng người, gây ấn tượng mạnh, làm người đọc yêu và nhớ thì quả thật rất ít, không bằng được những bài thơ gọi là "thơ tiền chiến". Vì sao? Theo tôi, thơ bây giờ dùng ngôn ngữ quá xa lạ với người đọc, làm cho người đọc không thể hiểu nổi tác giả nói gì, có nhiều bài đọc lên tôi cứ tưởng không phải thơ Việt! Bí hiểm, khổ độc, ẩn dụ, làm dáng thời thượng, khoe chữ, đánh đố...đó là những yếu tố làm thơ xa người đọc, có đọc cũng chẳng nhớ lâu nổi. Tôi thích loại thơ "để nhớ suốt đời" như "Chiều" của Hồ Dzếnh, "Hai Sắc Hoa Ti Gôn" của T.T. Kh, như "Lỡ Bước Sang Ngang" của Nguyễn Bính, như "Nhớ Rừng" của Thế Lữ, như "Đây Thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử v.v.. hay xa hơn nữa, như thơ Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm. Ước mong thế hệ chúng ta sẽ để lại nhiều bài thơ "nhớ suốt đời" cho thế hệ sau như chính chúng ta đã được thừa hưởng những áng thơ tuyệt tác của các thế hệ trước.

7. Bình luận gia Nguyễn Hưng Quốc(Úc Đại Lợi)

Ở miền Nam, trong thời kỳ 1954-1975, tương đối tự do hơn, không ai buộc thơ phải là công cụ cho chính trị, tuy nhiên, tận trong thâm tâm mỗi người, dường như họ vẫn coi thơ như một phương tiện, với nó, họ dấn thân vào thời cuộc. Người ta dùng thơ để phát ngôn lập trường, một quan điểm, một thái độ. Chỉ có thời gian ngắn, sau hiệp định Geneve, một số nhà thơ còn say mê theo đuổi cái Đẹp, nhưng ngay sau đó, không khí chính trị và xã hội càng lúc càng bức bối, người ta bỗng quên bẵng thơ đi, chỉ nhớ đến thời cuộc. Theo nhà văn Võ Phiến, thơ miền Nam thời kỳ này có thể chia thành hai giai đoạn: giai đoạn đầu từ 1954 đến 1963; giai đoạn sau từ 1964 đến 1975. Đặc điểm của giai đoạn đầu là sự hục hặc phá phách về hình thức, cầu kỳ tối tăm trong ngôn ngữ, khắc khoải dằn vặt trong tâm tình; đặc điểm của giai đoạn sau là trở về truyền thống, trở về khuôn khổ, trở về những vần điệu êm đềm quen thuộc cũ, thơ, do đó, trở thành nhẹ nhàng, trong sáng và dễ hiểu hơn. Nếu nhận định của Võ Phiến đúng, tôi nghĩ sự thay đổi ấy là điều đáng tiếc: thực chất đó là sự quy hàng của con người nghệ sĩ trước con người công dân; sự quy hàng của ý thức thẩm mỹ trước ý thức trách nhiệm. Cuối cùng, cái ông 'nhà nho' tưởng đã chết trong tâm hồn mỗi người lại được hồi sinh.

(Biên Khảo về Thơ của Nguyễn Hưng Quốc)

Sở dĩ chúng tôi nêu lên những phát biểu của các nhà thơ đã thành danh trên Thi Đàn Việt Nam trước 1975 ở quê nhà với mục đích để gợi ý quý vị tự thẩm định chọn lựa tác phẩm thi ca nào mà quý vị cảm nhận cho là hay nhất một cách công bằng hợp lý và khách quan.  Vì khó giải thích hết ý nghĩa của mỗi bài thơ, cảm nhận mỗi người mỗi khác, nhiều khi tương phản. Không nên đặt vấn đề lý giải về thơ để tìm sự đồng thuận hợp nhất.

Như quý vị đã biết sau biến cố đau thương trên quê hương miền Nam thân yêu. Dòng Văn Học diệu kỳ như dải lụa rực rỡ trên trường giang Văn Học Sử thể hiện Tình Tự Quê Hương Dân Tộc, Sáng Ngời Lý Tưởng Tự Do, Nhân Bản Khai Phóng và Sáng Tạo của một thời lừng lẫy vàng son giá trị khởi sắc và phong phú nhất của miền Nam đã hoàn toàn bị triệt hủy tận tình sau biến cố 30 tháng 4 năm 1975 đau thương của lịch sử Dân Tộc.

Những nhà hoạt động Văn Học miền Nam bị đưa vào các trại cải tạo đày đọa nghiệt ngã.

Trong số thi văn nhân này đã có một số người đã bỏ xác trong trại tù và tử nạn trên đường vượt biển tìm Tự Do.

Sau hơn 35 năm Cộng Sản Việt Nam thống trị trên quê hương họ vẫn cứ tin đã đốt hết kho tàng văn học miền Nam nhưng trên thực tế điều đó chỉ là hoang tưởng vì sự thật bạo tàn đã được lịch sử lưu truyền đến mai sau thấu hiểu sự kinh hoàng trong ký ức dân tộc. Những tác phẩm thể hiện đạo lý nhân bản dân tộc đó vẫn khắc sâu trong tim óc của dân chúng miền Nam và khoảng 3 triệu người Việt lưu vong nơi hải ngoại. Cho dù mọi biến cố lịch sử đã thuộc về quá khứ nhưng quá khứ vẫn tích lũy những kinh nghiệm quý báu cho cuộc hành trình hướng đến tương lai. Chính nhờ vào bản chất truyền thống văn hóa dân tộc hiền hòa nhân ái nên ngay trong thời gian hai miền Nam Bắc đối nghịch nhau về ý thức hệ, nhưng trong giới sinh hoạt Văn Học Nghệ Thuật, trí thức, sinh viên học sinh ở Miền Nam đều có thiện cảm say mê những tác phẩm thi ca của các thi sĩ Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hồ Dzếnh, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Anh Thơ, Vũ Đình Liên, Thâm Tâm...của thời tiền chiến trữ tình lãng mạn, khởi sắc thăng hoa, dĩ nhiên có nhiều bài thơ hay đến bây giờ vẫn còn được yêu thích. Đại khái như: Lưu Trọng Lư: "Em không nghe mùa thu/Lá thu kêu xào xạc/Con nai vàng ngơ ngác/Đạp trên lá vàng khô...". Hay Hồ Dzếnh: "Tình chỉ đẹp khi còn là dang dở/Đời mất vui khi đã vẹn câu thề/Thơ viết đừng xong thuyền trôi chớ đỗ/Cho nghìn sau lơ lửng với nghìn xưa."  Xuân Diệu với câu thơ ai cũng nhớ: "Yêu là chết trong lòng một ít/Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?/Cho thật nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu." Với bài thơ Ngậm Ngùi nhẹ nhàng quyến rũ mãnh liệt của Huy Cận:

 

Nắng chia nửa bãi; chiều rồi...

Vườn hoang trinh nữ xếp đôi lá rầu.

Sợi buồn con nhện giang mau;

Em ơi hãy ngủ...anh hầu quạt này;

Trăm con chim mộng về bay đầu giường.

Ngủ đi em, mộng bình thường!

Ru em sẵn tiếng thùy dương mấy bờ..

Cây dài bóng xế ngẩn ngơ...

Hồn em đã chín mấy mùa thương đau?

Tay anh em hãy tựa đầu,

Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi...

 

 Những hiện tượng ngưỡng mộ những bài thơ hay trong tinh thần bao dung tự nhiên đó chúng ta không thể phủ nhận. Mặc dù các nhà thơ này đang nắm giữ chức vị quan trọng trong chính quyền Cộng Sản và chính họ đã hèn nhát tự treo cổ tác phẩm của mình như trường hợp của nhà văn Nguyễn Tuân. Hoặc khai tử đoạn tuyệt những đứa con tinh thần như thi sĩ Xuân Diệu, Huy Cận trong giai đoạn phong trào Nhân Văn Giai Phẩm bùng vỡ khắp nơi trong giới văn nghệ sĩ miền Bắc.

Nói chung hầu như đa số những nhà thơ, văn tiền chiến đó đã thực sự thay đổi, khoác một chiếc áo khác để trở thành những công cụ phục vụ cho chế độ. Như nhà thơ Tế Hanh: "Hai mươi năm dưới ngọn cờ cách mạng/Ta đem câu thơ thành vũ khí chống quân thù..." hay Chế Lan Viên: "Hoan hô cái hầm chông. Ta yêu ngươi hơn vạn đóa hoa hồng.." những bài thơ có xác mà không có hồn. Tuy nhiên cũng có những nhà văn nhà thơ can trường thẳng thắn đầy hào khí của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm do nhà văn, thơ Phan Khôi chủ xướng phản kháng với chế độ độc tài đòi quyền tự do sáng tạo của người trí thức. Nổi bật nhất là thi sĩ Phùng Quán với bài thơ Lời Mẹ Dặn. Được giới sinh hoạt Văn Học Miền Bắc ca ngợi là một bài thơ xuất sắc:

 

"...Như lời mẹ dặn thuở lên năm

Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ

Người làm xiếc đi dây rất khó

Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn

Đi trọn đời trên con đường chân thật

Yêu ai cứ bảo là yêu

Ghét ai cứ bảo là ghét

Dù ai cầm dao dọa giết

Cũng không nói ghét thành yêu

Tôi muốn làm nhà thơ chân thật

Chân thật trọn đời

Đường mật công danh không làm ngọt được lưỡi tôi

Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã

Bút giấy tôi ai cướp giật đi

Tôi sẽ dùng dao viết văn lên đá..."

(năm 1957)

Những phản kháng quyết liệt của Hữu Loan (Màu Tím Hoa Sim) của Hoàng Cầm (Bên Kia Sông Đuống), Trần Dần (Nhất Định Thắng) tinh thần can trường kiên định của nhà thơ Lê Đạt. Nhất là thái độ cứng rắn can đảm với lý luận bướng bỉnh của Phan Khôi: "Làm sao cũng chẳng làm sao/Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi/Làm chi cũng chẳng làm chi/Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao!"

Nhưng chỉ là ngọn lửa bùng lên trong một thời gian ngắn để rồi tắt lịm, trước cơn bão hủy diệt tàn bạo của nhà cầm quyền Hà Nội.

Kính Thưa Quý Vị

Theo thiển ý và kinh nghiệm riêng của chúng tôi khi một bài thơ đạt những tiêu chuẩn như sau:

1. Cảm hứng xuất thần khi sáng tác (hồn thơ)

2. Thể hiện sự chân thật và tự nhiên

3. Tư tưởng chuyển đạt cảm xúc

4. Cấu trúc ngôn ngữ để tạo sự dễ nhớ

Hy vọng sẽ được đa số quần chúng và giới phê bình văn học đánh giá là một bài thơ hay.

Với tiêu chuẩn vừa nêu trên, chúng tôi xin mạn phép đóng vai trò người phu già vực lên trong tro than của quá khứ để tìm những viên ngọc quý không bị hủy hoại của lửa phần thư và không bị thời gian làm phai mờ trong tiềm thức của chúng ta. Đó là những tác phẩm Văn Học dân tộc tuyệt vời trân quý của một thời rạng rỡ tinh hoa của những tên tuổi được yêu thích như Đinh Hùng, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Trần Dạ Từ, Lê huy Oanh, Du Tử Lê, Hoàng Trúc Ly, Hoài Khanh, Viên Linh, Cao Tiêu, Thanh Nam, Tô Thùy Yên, Trần Hoài Thư, Luân Hoán, Hoàng Anh Tuấn, Tuệ Nga, Kim Tuấn, Nguyễn Tất Nhiên, Vũ Hữu Định, Huy Phương, Diên Nghị, Cao Mỵ Nhân, Song Nhị, Hà Thượng Nhân, Nguyễn Bắc Sơn, Hoàng Lộc, Hà Thúc Sinh, Thành Tôn, Tạ Ký, Lâm Hảo Dũng, Lữ Quỳnh..v.v..

Trong thời lượng ngắn ngủi này, chúng tôi chỉ mạo muội đan cử một vài tác phẩm thi ca tâm đắc theo sở thích riêng tư, kính mong quý vị niệm tình thông cảm. Đó là những bài Tình Già của Phan Khôi, Tống Biệt Hành của Thâm Tâm, Đây Thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Chào Nguyên Xuân của Bùi Giáng, Áo Lụa Hà Đông của Nguyên Sa, Tiếng Chuông Thiên Mụ của Nhã Ca, Đôi Mắt Người Sơn Tây của Quang Dũng và Nguyện Cầu của Vũ Hoàng Chương.

 

TÌNH GIÀ

Phan Khôi.

 

"Hai mươi bốn năm xưa,

Một đêm vừa gió lại vừa mưa.

Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,

Hai mái đầu xanh kề nhau than thở.

"Ôi! đôi ta tình thương nhau thì vẫn nặng,

Mà lấy nhau hẳn là không đặng.

Để đến rồi tình trước phụ sau;

Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau!"

Hay! nói mới bạc làm sao chớ!

Buông nhau làm sao cho nỡ?

Thương được chừng nào hay chừng nấy,

Chẳng qua ông trời bắt đôi ta phải vậy!

Ta là nhân ngãi đâu có phải vợ chồng mà tính việc thủy chung?

 

Hai mươi bốn năm sau,

Tình cờ nơi đất khách gặp nhau!

Đôi cái đầu đều bạc.

Nếu chẳng quen lung đố có nhìn ra được!

Ôn chuyện cũ mà thôi.

Liếc đưa nhau đi rồi!

Con mắt có đuôi".

 

 

TỐNG BIỆT HÀNH

Thâm Tâm

 

Đưa người ta không đưa sang sông,

Sao có tiếng sóng ở trong lòng?

Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy

Một giã gia đình, một dửng dưng...

 

-Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ.

Chí lớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại

Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.

 

Ta biết người buồn chiều hôm trước,

Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,

Một chị, hai chị cùng như sen

Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.

 

Ta biết người buồn sáng hôm nay:

Trời chưa mùa thu, tươi thắm thay,

Em nhỏ thơ ngây đôi mắt biếc

Gói tròn thương nhớ chiếc khăn tay...

 

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!

Mẹ thà coi như chiếc lá bay.

Chị thà coi như là hạt bụi

Em thà coi như hơi rượu say.

 

ĐÂY THÔN VĨ DẠ

Hàn Mặc Tử.

 

Sao anh không về chơi thôn Vĩ,

Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

 

Gió theo lối gió mây đường mây

Giòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay

 

Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà.

 

 

CHÀO NGUYÊN XUÂN

Bùi Giáng.

 

Xin chào nhau giữa con đường

Mùa xuân phía trước miên trường phía sau

Tóc xanh dù có phai màu

Thì cây xanh vẫn cùng nhau hẹn rằng

 

Xin chào nhau giữa lúc này

Có ngàn năm đứng ngó cây cối và

Có trời mây xuống lân la

Bên bờ nước có bóng ta bên người

 

Xin chào nhau giữa bàn tay

Có năm ngón nhỏ phơi bày ngón con

Thưa rằng: những ngón thon thon

Chào nhau một bận sẽ còn nhớ nhau

 

Xin chào nhau giữa làn môi

Có hồng tàn lệ khóc đời chửa cam

Thưa rằng bạc mệnh xin kham

Giờ vui bất tuyệt xin làm cỏ cây

 

Xin chào nhau giữa bụi đầy

Nhìn xa có bóng áng mây nghiêng đầu

 

Hỏi rằng: người ở quê đâu

Thưa rằng: tôi ở rất lâu quê nhà

Hỏi rằng: từ bước chân ra

Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài

Thưa rằng: nói nữa là sai

Mùa xuân đương đợi bước ai đi vào

Hỏi rằng: đất trích chiêm bao

Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau

Thưa rằng: ly biệt mai sau

Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân.

 

ÁO LỤA HÀ ĐÔNG

Nguyên Sa.

 

Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng

 

Anh vẫn nhớ em ngồi đây, tóc ngắn

Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh

Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung

Bày vội vã vào trong hồn mở cửa

 

Gặp một bữa anh đã mừng một bữa

Gặp hai hôm thành nhị hỉ của tâm hồn

Thơ học trò anh chất lại thành non

Và đôi mắt ngất ngây thành chất rượu

 

Em không nói đã nghe lừng giai điệu

Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh

Anh đã trông lên bằng đôi mắt chung tình

Với tay trắng em vào thơ diễm tuyệt

 

Em chợt đến, chợt đi, anh vẫn biết

Trời chợt mưa, chợt nắng chẳng vì đâu

Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau

Để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại

 

Để anh giận mắt anh nhìn vụng dại

Giận thơ anh đã nói chẳng nên lời

Em đi rồi, sám hối chạy trên môi

Những ngày tháng trên vai buồn bỗng nặng

 

Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn

Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng

 

 

TIẾNG CHUÔNG THIÊN MỤ

Nhã Ca.

 

Tôi lớn lên bên này sông Hương

Con sông chẻ đời ra những vùng thương nhớ

Cây trái Kim Long, sắt thép cầu Bạch Hổ

Cửa từ bi vồn vã bước chân sông

Mặt nước xanh trong suốt tuổi thơ hồng

Tháp cổ chuông xưa sông hiền sóng mọn

Những đêm tối bao la những ngày tháng lớn

Những sáng chim chiều dế canh gà

Tiếng chuông buồn vui dợn thấu trong da

Người với chuông như chiều với tối

 

Tôi bỏ nhà ra đi năm mười chín tuổi

Đêm trước ngày đi nằm đợi tiếng chuông

Cuối cơn điên đầu giấc ngủ đau buồn

 

Tiếng chuông đến dịu dàng lay tôi dậy

Tiếng  chuông đến và đi chỉ mình tôi thấy

Chỉ mình tôi nhìn thấy tiếng chuông tan

Tiếng chuông tan đều như hơi thở anh em

Tiếng chuông tan rời như lệ mẹ hiền

Tiếng chuông tan lâu như mưa ngoài phố

Tiếng chuông tan dài như đêm không ngủ

Tiếng chuông tan tành như tiếng vỡ trong tôi

 

Từ dạo xa chuông khôn lớn giữa đời

Đổi họ thay tên viết văn làm báo

Cơm áo dạy mồm ăn lơ nói láo

Cửa từ bi xưa mất dấu đứa con hư

Tháp cổ chuông xưa, sông nhỏ sương mù

Dòng nước cũ trong mắt nhìn ẩm đục

Con đường cũ trong hồn nghe cỏ mọc

Chuông cũ giờ đây bằn bặt trong da

Tuổi hồng sa chân chết đuối bao giờ

Ngày tháng cũ cầm bằng như nước lũ

 

Nhưng sao chiều nay bỗng bàng hoàng nhớ

Tiếng chuông xưa bừng sống lại trong tôi

Tiếng chuông xưa kìa tuổi dại ta ơi

Chuông òa vỡ trong tôi nghìn tiếng nói

Những mảnh đồng đen như da đêm tối

Những mảnh đồng đen như tiếng cựa mình

Những mảnh đồng đen như máu phục sinh

Những mảnh đồng đen kề nhau bước tới

 

Tôi thức dậy rồi đây chuông ơi chuông hỡi

Tôi thức dậy đây tôi thức dậy rồi

Thức dậy thực sự rồi

Thức dậy cùng dông bão, thức dậy cùng tan vỡ

Thức dậy cùng lịch sử

Mẹ hiền ơi thành phố cũ chiều nay

 

Có tiếng chuông nào rơi như lệ trên tay

Trên mặt nước trên mặt người mặt lộ

 

Cho con trở về đừng mê sảng ngó.

 

 

ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY

Quang Dũng.

Em ở thành Sơn chạy giặc về

Tôi từ chinh chiến cũng ra đi

Cách biệt bao ngày quê Bất bạt

Chiều xanh không thấy bóng Ba Vì

 

Vừng trán em vương trời quê hương

Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương

Tôi thấy xứ Đoài mây trắng lắm

Em có bao giờ em nhớ thương.

 

Từ độ thu về hoang bóng giặc

Điêu tàn thôi lại nối điêu tàn

Đất đá ong khô nhiều ngấn lệ

Em có bao giờ lệ chứa chan?

 

Mẹ tôi em có gặp đâu không?

Những xác già nua ngập cách đồng

Tôi cũng có thằng con bé dại

Bao nhiêu rồi xác trẻ trôi sông

 

Đôi mắt người Sơn Tây

U uẩn chiều lưu lạc

Buồn viễn xứ khôn khuây...

Em mơ cùng ta nhé

Bóng ngày mai quê hương

Đường hoa khô ráo lệ

 

Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn

Về núi Sài Sơn ngắm lúa vàng

Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ quốc

Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng

 

Bao giờ tôi gặp em lần nữa

Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa

Đã hết sắc màu chinh chiến cũ

Em có bao giờ nhớ đến ta.

 

 

NGUYỆN CẦU

Vũ Hoàng Chương.

 

Ta còn để lại gì không?

Kìa non đá lở, này sông cát bồi...

Lang thang từ độ luân hồi,

U minh nẻo trước, xa xôi dặm về.

Trông ra bến Hoặc bờ Mê,

Ngàn thu nửa chớp, bốn bề một phương.

Ta van cát bụi trên đường

Dù nhơ dù sạch, đừng vương gót này.

Để ta tròn một kiếp say,

Cao xanh liều một cánh tay níu trời.

Thơ ta chẳng viết cho đời,

Không vang nhịp khóc dây cười nào đâu!

Tâm hương đốt nén linh sầu

Nhớ quê dằng dặc ta cầu đó thôi,

Đêm nào ta trở về ngôi

Hồn thơ sẽ hết luân hồi thế gian

Một phen đã nín cung đàn,

Nghĩ chi còn mất hơi tàn thanh âm.

(Hà Nội 1950)

 

Chúng ta ai cũng hiểu, thời gian rồi sẽ qua đi, tất cả mọi hiện tượng vật chất rồi sẽ tan biến vào cõi vô thường.

Nhưng cái còn lại chúng ta mang theo trong tâm thức nơi viễn xứ là nét văn hóa đặc thù của dân tộc. Không có nguồn văn chương lưu vong nào không cưu mang Tổ Quốc

Hiện trạng của chúng ta là những nạn nhân của một chế độ thiếu tự do nhân bản. Cho dù định cư ở nơi nào trên thế giới chúng ta đều phải kiên trì vượt qua những khó khăn đối diện với đời sống thực tế.  Tuy nhiên chúng ta hãy nhận thức vai trò và bổn phận cao quý hơn nữa là phải quyết tâm bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa cội nguồn của Dân Tộc, chuyển đạt đến các thế hệ mai sau niềm tự hào là người Việt Nam chúng ta cũng có một nền Văn Hóa đầy Tình Tự Quê Hương, Nhân Bản và Sáng Tạo bằng trái tim từ ái ưu viễn tôn vinh tình người, thăng hoa hướng tới Chân Thiện Mỹ của nhân loại.

 

THÁI TÚ HẠP

(Bài nói chuyện với dề tài "Khái Quát Văn Học Ba Miền và Những Áng Thơ Tiêu Biểu" với các khóa sinh tham dự Khóa Huấn Luyện & Tu Nghiệp Sư Phạm Kỳ XXII - 2010 do Ban Đại Diện Các Trung Tâm Việt Ngữ Nam California tổ chức tại Coastline Community College, Le-Jao Center, Westminster vào Thứ Bảy ngày 14-08-2010)