Saigon Times


Menu



Đài Tưởng Niệm

Thuyền Nhân

Việt Nam

Tiếp Theo...

* CẦU NGUYỆN VÀ TƯỞNG NIỆM NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM 2016 TẠI NAM CALI


* 40 NĂM QUỐC HẬN LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN, BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* 30 THÁNG TƯ, TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* BI SỬ THUYỀN NHÂN (Nguyễn Quốc Cường)


* BIỂN ĐÔNG LỤC BÌNH TRÔI


* CÁI GIÁ CỦA TỰ DO


* CÁNH BÈO BIỂN CẢ (Văn Qui)


* CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ CON TÀU MANG SỐ MT065


* CẦU SIÊU BẠT ĐỘ TẠI ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM WESTMINSTER


* CHUYỆN KỂ HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG (Nhiều Tác Giả)


* CHỨNG TÍCH ĐỂ ĐỜI: ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* CHUYẾN VƯỢT BIÊN ĐẪM MÁU (Mai Phúc)


* CHUYẾN VƯỢT BIỂN HÃI HÙNG


* CON ĐƯỜNG TÌM TỰ DO (Trần Văn Khanh)


* CÒN NHỚ HAY QUÊN (Nguyễn Tam Giang)


* DẠ TIỆC VĂN NGHỆ "LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG" THÀNH CÔNG NGOÀI DỰ KIẾN CỦA BAN TỔ CHỨC


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Việt Hải)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TẠI QUẬN CAM (Vi Anh)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM: BIỂU TƯỢNG THIÊNG LIÊNG CỦA NIỀM KHÁT VỌNG TỰ DO VÀ NHÂN QUYỀN


* ĐÊM DÀI VÔ TẬN (Lê Thị Bạch Loan)


* ĐI VỀ ĐÂU (Hoàng Thị Kim Chi)


* GALANG: BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM BỊ PHÁ BỎ


* GALANG MỘT THỜI - MỘT ĐỜI (Nguyễn Mạnh Trinh)


* GIÁNG NGỌC PHỎNG VẤN NHÀ THƠ THÁI TÚ HẠP VÀ NỮ SĨ ÁI CẦM VỀ LỄ KHÁNH THÀNH ĐTNTNVN


* GIỌT NƯỚC MẮT CHO NGƯỜI TÌM TỰ DO (Lê Đinh Hùng)


* HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT


*"HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG: TỰ DO, MỘT NHU CẦU THIẾT YẾU, ĐÁNG ĐỂ TA ĐI TÌM"


*HÀNH TRÌNH GIAN NAN TÌM TỰ DO  


* HÀNH TRÌNH TÌM CON NƠI BIỂN ĐÔNG


* HÌNH ẢNH MỚI NHẤT CHUẨN BỊ KHÁNH THÀNH VÀO THÁNG 04-2009


* HÒN ĐẢO BỊ LÃNG QUÊN (Meng Yew Choong)


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ VINH DANH ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ WESTMINSTER THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT “NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM”


* KHÁNH THÀNH ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI NAM CALI


* KHẮC TÊN TRÊN BIA TƯỞNG NIỆM (Việt Hải)


* LÀN SÓNG THUYỀN NHÂN MỚI


* LỄ ĐỘNG THỔ KHỞI CÔNG XÂY DỰNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* LỄ KHÁNH THÀNH TRỌNG THỂ ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI QUẬN CAM


* LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TỔ CHỨC TRANG NGHIÊM TẠI NGHĨA TRANG WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* LÒNG NHÂN ÁI (Tâm Hồng)


* LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG (Thơ Thái Tú Hạp)


* MEMORIAL TO BOAT PEOPLE WHO DIED TO BE DEDICATED SATURDAY


* MỘT CÁI GIÁ CỦA TỰ DO (Trần Văn Hương)


* MƠ ƯỚC "MỘT NGÀY TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN" ĐÃ TRỞ THÀNH SỰ THẬT


* NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM THỨ 5


* "NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM" TỔ CHỨC TRỌNG THỂ TẠI WESTMINSTER


* NGƯỜI PHỤ NỮ SỐNG SÓT SAU CHUYẾN VƯỢT BIỂN KINH HOÀNG


* NHỮNG CHUYỆN HÃI HÙNG CỦA THUYỀN NHÂN (Biệt Hải)


* NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT ĐỀU CÓ THẬT (Ngô Dân Dụng)


* NHỮNG THÁNG NGÀY YÊU DẤU NƠI HOANG ĐẢO (Tuấn Huy)


* NỖI BẤT HẠNH ĐỜI TÔI (Thùy Yên) 


* NỖI KHỔ CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Thy Vũ Thảo Uyên)


* NƯỚC MẮT CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Nguyễn Mỹ Linh)


* SAIGON TIMES PHỎNG VẤN MỤC SƯ HÀ JIMMY CILLPAM 4 NĂM CÓ MẶT TRÊN TÀU AKUNA CỨU HƠN 5000 NGƯỜI VIỆT NAM VƯỢT BIỂN TÌM TỰ DO TRÊN BIỂN ĐÔNG


* TÀU SẮT BẾN TRE (Tú Minh)


* THẢM KỊCH BIỂN ĐÔNG (Vũ Duy Thái)


* THẢM SÁT TRÊN ĐẢO TRƯỜNG SA


* THỊ XÃ WESTMINSTER VINH DANH TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN


* THÔNG BÁO CỦA ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VN


* THƠ LÀM KHI ĐỌC TIN THUYỀN NHÂN (Viên Linh)


* THUYỀN NHÂN: ẤN TÍCH LỊCH SỬ


* THUYỀN NHÂN VÀ BIỂN ĐỘNG


* THUYỀN NHÂN VÀ MỘT VÀI HÌNH ẢNH CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN


* THUYỀN NHÂN VIỆT NAM VƯỢT BIÊN, TỬ NẠN, ĐẾN BỜ TỰ DO ĐÃ GIÚP NHÂN LOẠI NHÌN RÕ ĐƯỢC CHÂN TƯỚNG CỦA CỘNG SẢN (Lý Đại Nguyên)


* TRÔI GIẠT VỀ ĐÂU (Nguyễn Hoàng Hôn)


* TRỞ VỀ ĐẢO XƯA... (Nguyễn Công Chính)


* TỪ TẤM BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN Ở GALANG NHÌN RA CON ĐƯỜNG HÒA GIẢI


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN VIỆT NAM ĐÃ CHÍNH THỨC ĐƯA VÀO WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN ĐÃ ĐƯỢC ĐẶT VÀO VỊ TRÍ AN VỊ TRONG KHUÔN VIÊN WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30-4-2012

* VĂN TẾ THUYỀN BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* VƯỢT BIỂN (Thanh Thanh)


* VƯỢT BIỂN MỘT MÌNH (Nguyễn Trần Diệu Hương)


* XIN VỀ ĐÂY CHỨNG GIÁM, AN GIẤC NGÀN THU


* XÓA DẤU VẾT TỘI ÁC (Phạm Phú Minh)


Saigon Times USA

VĂN CAO, THƠ CỦA NHỮNG GIẤC MƠ

NGUYỄN MẠNH TRINH

 

Văn Cao mất ngày 10 tháng 7 năm 1995, đến ngày hôm nay là 11 năm.

Với riêng  tôi, Văn Cao vừa quen và vừa lạ. Quen, bởi vì những bản nhạc nghe hàng ngày, những Đàn Chim Việt , những Suối Mơ, những Buồn Tàn Thu,… từ lúc vừa mới lớn ở quê nhà đến cả những  lúc sống ở đây.  Quen, bởi vì biết ông là một nghệ sĩ đa tài, nghệ thuật  văn, nhạc,  họa độc đáo,  là một người trong nhóm Nhân Văn Giai Phẩm và bị chế độ đương thời đầy ải trù dập suốt cả cuộc đời mặc dù là tác giả của bản quốc ca “ Tiến Quân Ca”. Và , cũng quen là những hành khúc hùng tráng mà tôi đã cùng với bạn bè đồng ngũ hát vang lên trên thao trường, trên binh lửa, những “ Không quân Việt Nam", những “Chiến sĩ Việt Nam”… của  những bài hát mà chúng tôi nghĩ đã nợ từ lòng  ái quốc, từ sự hy sinh của thế hệ cha anh đi trước.

Còn lạ, bởi vì trong thế hệ những người sinh ra và lớn lên trong khoảng thập niên 40, 50  và trưởng thành ở miền Nam như chúng tôi  , ông vẫn chỉ được biết đến từ một vài chi tiết không đầy đủ và có lẽ chứa khá nhiều chất huyền thoại ,  không giống  với những nhạc sĩ khác  như Phạm Duy hoặc Trinh Công Sơn có nhiều nét sống thực gần gũi   hơn.

Có một nhà văn bây giờ cũng đã quá cố, nhà văn Xuân Vũ, đã so sánh hai khuôn dáng  Văn Cao  và Phạm Duy:

 “Hai người cùng khởi hành

cùng một đường một lúc

hai người cùng đến đích

nhưng mỗi người một nơi

cách  nhau một đường  tơ

xa nhau một sợi tóc.”

   Tuy tơ tóc cách nhau nhưng là thẳm biệt nghìn trùng. Văn Cao đã mất , nhưng tác phẩm và tư cách vẫn còn sống.  Không phải chỉ một mình Xuân Vũ , mà cả Thụy Khuê trong bài viết “Văn Cao- Phạm Duy, trần  gian  và tiên cảnh” cũng có ý mang hai người , hai phong cách , ra đối chiếu . Nhưng, đó là bài viết  lúc mấy năm trước .

Còn, bây giờ, Phạm Duy đã đổi khác …

Tôi quen thuộc thêm với Văn Cao khi xem cuốn video do Đinh Anh Dũng quay “ Giấc mơ một đời người”. Những hình ảnh đã gây thật nhiều ấn tượng. Một ông già tóc bạc trắng , lê cái gậy  chậm bước trên ngõ phố Hà Nội, trên ruộng đồng với cái phông của núi rừng ẩn hiện xa xa. Những vỉ tường loang lở, những mái ngói rêu phong, những cầu thang khuất khúc,  nơi ấy , người nghệ sĩ già đã sống, đã làm việc , đã chịu đựng những nỗi đau thầm kín của một kẻ sĩ không gặp vận thời. Căn phòng nghèo nàn, cỗ dương cầm cũ kỹ, những bước tranh treo trên mảnh tường xám xịt , đã hơn một lần là những hình ảnh của  tạp chí quốc tế National Geographic cho một bài viết về một nghệ sĩ tài hoa Việt Nam cả về hội họa , âm nhạc và thi ca . Những hình ảnh ấy, mở ra một cuộc sống, mà nghệ thuật là một cái nghiệp nặng nề đeo đuổi lên không những với một người mà cả một gia đình , một dòng tộc. Những vết nhăn khắc khổ trên khuôn mặt phong trần, những bước đi chông chênh tựa trên  cây gậy , những lời nói tâm sự đằm thắm, tất cả , làm đậm nét thêm chân dung của một người đã sáng tác ra bản quốc ca đã hơn nửa thế kỷ , dù có lúc , chế độ ấy muốn thay thế, mở ra những cuộc thi để tìm kiếm một bản quốc ca khác. Mà lý do, xem ra khá cá nhân vì một số các quan chính quyền và quan văn nghệ không ưa tác giả !!!

Nguyễn Thụy Kha, một nhà văn khá thân cận với Văn Cao, đã từng chứng kiến cũng như chia sẻ những khốn khó của cuộc đời ông, viết:

“… Hòa bình. Chỉ sau khi ấn hành trường ca “Những người trên cửa biển” một thời kỳ hết sức nghiệt ngã đã ập xuống đầu Văn Cao cũng như một dố đồng nghiệp văn nghệ khác . Suốt mấy chục năm, Văn Cao phải lặng lẽ âm thầm sáng tạo trong đớn đau, trong cảnh túng quẫn. Dường như ông không viết bài hát nữa mà chuyển vào những tiểu phẩm nhạc không lời  như “ Hàng dừa xa”, “ Sông tuyến”, “ Biển đêm”.ông dằn lòng viết những câu thơ không in, vẽ minh họa để kiếm chút “ tiền còm” bởi thúc bách của đời sống thường nhật. Dù được nhìn nhận như là một trong những người làm minh họa và bìa sách sang trọng Văn cao vẫn gắng bơi qua những nhạc phim và một tổ khúc” Anh bộ đội cụ Hồ” cho dàn nhạc.  Nhưng túng quẩn vẫn luôn luôn rình rập trước số phận Văn Cao, luôn đe dọa dập tắt mọi ý nghĩa sáng tạo. Đỉnh điểm của thời kỳ này là “cuộc vận động sáng tác quốc ca mới” nhằm thay thế quốc ca .. cũ. Đã có đến 17 bài nhạc lọt vào vòng sơ khảo, được ấn hành  và được phát thanh liên tục trên làn sóng điện. Nhưng chính khi ấy, năm 1982, sau cơn đau dạ dày hiểm nguy, Văn Cao lại được mời sang Đức ( Cộng Hòa Dân Chủ Đức lúc đó)với tư cách là tác giả bản Quốc ca. Cùng trong thời gian đó, ở Đại  Hội Nhạc Sĩ Việt Nam lần thứ ba,  Văn  Cao được trúng trở lại trong Ban Chấp Hành.  Tuy nhiên cảnh túng quẩn vẫn triền miên vì cả hai ông bà đều đã về hưu từ mấy năm trước. Quốc ca vẫn được cất lên trong các buổi chào cờ, trong các  cuộc đón tiếp  quốc tế long trọng , còn tác giả của nó thì vẫn chật vật với đời sống chật vật…”

Khó khăn đời sống bắt đầu từ trường ca “ Những người trên cửa biển" viết về thành phố cảng Hải Phòng được in trong tập thơ chung của bốn người  được nhà xuất bản Văn Nghệ ở Hà Nội  phát hành  năm 1956: Hoàng Cầm, Văn Cao , Trần Dàn , Lê Đạt , mà ngày hôm nay , Thanh Thảo  đã cho là một tác phẩm quan trọng của văn học Việt nam sau hơn nửa thế kỷ bị vùi dập, tiêu hủy từ chế độ.

Trong trường ca ấy , có một đoạn thơ được trích đăng trong Nhân Văn Giai Phẩm Mùa Thu tập II  tháng 10 năm 1956” Những ngày báo hiệu mùa xuân” có những câu thơ như những lời tố cáo , dõng dạc đầy chất chính luận :

 .. Chúng tôi đêm ngày vét nước nối đê

tưới ngọt lại ruộng đồng, dựng lại từng thôn xóm

tìm laị những nụ cười ở môi người sống sót

Lửa đỏ đêm đêm trên bãi biển bập bùng

Trong những ngày khó khăn chồng chất.

Kẻ thù của chúng ta xuất hiện

Những con rồng đất khi đỏ khi xanh

Lẩn trong hàng  ngũ

Những con bói cá

Đậu trên những chiếc giây buồm

Đang đo mực nước.

Những con bạch tuộc

Bao nhiêu tay chân dìm chết một con người

Đất nước đang lên da lên thịt

Đất nước còn đang nhỏ máu ngày ngày

Ta muốn gói cuộc đời gọn gàng như trái vải

Đã thấy loài sâu nằm tròn trong cuống

Chúng muốn các em nhỏ mới biết đi phải rụng.

Mòn mỏi dần sức vỡ đất khai hoang

Làm rỗng những con người, lùi dần niềm hy vọng.

Héo dần mầm sáng tạo, mất phẩm giá con người

chúng nó ở bên ta , trong ta lén lút

Đào rỗng từng kho tiền gạo thuốc men

Tôi đã thấy từng   mặt từng tên sâu chuỗi

 Tôi sẽ vạch từng tên từng mặt

Hãy dừng lại

Những tên muốn ôm cây mùa xuân không cho mọc

Những tên muốn làm cây to che  cớm mầm non

Con đường ta đi tự hào lực lượng

Con đường nước nguồn thành  sông thành biển

Con đường ta đi tự hào duy nhất

Con đường đi trái đất quanh mặt trời…”

 Những câu thơ ấy, có phải xuất phát từ một tâm cảm xúc động trước những biến cố của quê hương? Tâm cảm ấy, bàng bạc trong bài viết “Mấy ý nghĩ về thơ” in trên tạp chí Văn Nghệ một năm sau:

“.. người làm thơ phải đi tìm những tư tưởng cảm xúc và cảm giác trên kia trong thực tế ở những con người đang hàng ngày túi bụi xây dựng. Càng tới gần cái cuộc sống đầy mâu thuẫn đấu tranh là càng như đi gần lại một kho thuốc nổ. Có người dao động và sợ hãi quay lưng lại. Có người vụng về mà làm nổ. Nhưng cũng có người can đảm biết làm nổ để mở đường.

Hôm nay con đường lớn nhất của chúng ta là mở cho tất cả những giấc mơ, những khát vọng tự do phát triển bay đi xe mật về ổ. Mở cho những giấc mơ, những khát vọng tự do phát triển bao nhiêu là tập trung tất cả giấc mơ và khát vọng của con người làm thành mũi nhọn kéo lê đi phía sau cái thực tế chậm chạp..”.

Thuốc nổ đã cháy và bùng lên  , nhưng , thay vì để mở đường cho một vận hội tốt cho đất nước  lại là làm nghẽn lối cho nhà thơ. Và , tâm trạng thất bại ấy biểu lộ rõ trong bài thơ “ Có lúc"

 “ Có lúc

một mình một dao giữa rừng đêm không sợ hổ

 có lúc

ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt

có lúc

nước mắt không thể chảy ra ngoai được"

 Những loài rồng đất đổi thay màu da, những con bói cá rình mò, nhưng tay bạch tuộc nhớt nhúa, … dẫy đầy trong chế độ và là những kẻ cầm quyền tự tung tự tác ngự trị trên  đầu trên cổ nhân dân. Thi sĩ, vật vã với khốn khó, im lìm trong nỗi đau, thoi thóp trong suy tưởng . Nhưng, vẫn còn hy vọng. vẫn còn  chút  mơ ước, bởi vì :

 “ anh có thấy không

chỗ nào cũng có tiếng

chưa nói lên”

 Phùng Quán cũng viết về cái tâm trạng não nề của một người đầy hùng khí mà biến thành một người dửng dưng câm lặng nuốt hết những nhọc nhằn mà không tránh được tiếng rên:

 “..  cả tiểu đội tôi chỉ còn mắt với răng

như một đồng ca chúng tôi lên cơn sốt rét

lên cơn sốt rét chúa trời cũng phải rên!

Nhưng chúng tôi không rên

Chúng tôi hát

Bao chiến sĩ anh hùng

Có một điều anh không bao giờ ngờ được

Chúng tôi đã cài biên khúc quân hành bão táp của anh

Thành nhạc không lời

Thành một điệu rên..”

Phải rồi, cái dũng khí chiến trường có giúp gì trong cuộc sống cơ cực nheo nhóc. Chiến đấu với cái đói, cái thiếu không phải cho riêng mình mà cả một gia đình sao khó nhọc đến thế.   Và, để đổi lấy áo cơm, là những nhạc không lời , những tranh vô ngôn, những bìa sách không nói, .. Những chế độ chuyên chính   đã có phương cách kiến hiệu nhất để bắt nhân dân tuân phục. Như , ở miền Bắc , những Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường, .. trí thức sâu sắc , Nguyễn Tuân ngang ngạnh lãng mạn, Quang Dũng hào sảng ngông  nghênh,.., phải tối mặt với đời thường và mai một đi những sở đắc của mình mà chế độ cho rắng có ngày sẽ thành động lực để triệt hủy sự thống trị của họ…

Hai mươi năm , Văn Cao không làm thơ. Nhưng, thơ lại là những trang nhật ký, viết trong cuốn sổ tay chi chít chữ , hay những mảnh giấy vun , những bao thuốc bỏ đi. Thơ, là những phân tử máu của cuộc sống. Thơ là cái nhìn , cái nghe , cái thở, cái khóc , để nén vào thẳm sâu , để ghi lại và phác thảo  chính cái hình của mình , cái bóng của mình trong một thời đại mà sự nghi kỵ và rình mò lẫn nhau trở thành quen thuộc bình thường.

Sau khi đổi mới, có sự nới tay “cởi trói” , tập thơ Lá của Văn Cao được  xuất bản . Tập thơ mỏng, trình bày sơ sài, in  giấy xấu. Tuy vậy, cũng là một vừa ý mien cưỡng . Nguyễn Trọng Tạo, nhà văn "biên tập” Lá viết :

“… Những bài thơ chi chít trong những cuốn sổ tay nhỏ xíu úa màu thời gian vàng vọt. Những bài thơ viết trên vỏ bao thuốc lá nhặt được trong qúan rượu . Có bài thơ được ghi lại không phải nét chữ của ông mà là chữ của vợ ông, bà sợ ông quên đi mất nên bà bắt ông đọc để bà chép lại. Năm 1987, Nguyễn Thụy Kha đã lần mò chép lại những bài thơ trong cặp bản thảo  nhòe mờ ấy của ông rồi đưa cho tôi đọc. Giữa quá nhiều bất btrắc của cuộc đời, tiếng thơ Văn Cao chẳng bao giờ đổi giọng.Chữ nghĩa của ông như được viết ra từ ngòi bút kim cương chứ không phải là bút lông bút sắt. Và khi tiến hành chọn bản thảo tập thơ Lá , Văn Cao rất vui lòng ủy thác cho  Nguyễn Thụy Kha , Thanh Thảo và tôi tuyển  chọn hầu như ông hoàn toàn yên tâm về việc đó. Ông nói: "Ba thằng mày bảo được là được”.

Tập thơ Lá của ông được in ra không đúng như chúng tôi  đã chọn dưới sự ủy thác của ông, 5 bài thơ ông tâm đắc bị bỏ ra , và thay vào mấy bài thơ ông in báo thời kháng chiến chín năm.Tuy không được hài lòng lắm, nhưng ông cũng mỉm cười sau 30 năm trở lại thi đàn. Ong tiếp tục viết những bài thơ mới. Vẫn là Văn Cao tươi ròng không tuổi …”

Lá là một tập thơ gồm 28 bài. Trong đó có không gian của  Hà Nội , Hải Phòng , Qui Nhơn,..,  có thời gian những ngày  rất đặc biệt của đất nước  lúc chế độ Cộng sản vừa tiếp thu đến  khi dằng dặc cuộc chiến tranh đau xót. Ơ đó, cũng có tình yêu , với đất nước ruộng đồng , với phố thị quen thân , có những giấc mơ và có những hiện thực đời thường nhói buốt. Ở đó, âm nhạc và hội tụ vào , để những nốt nhạc trầm đến mức thành vô thanh, để những nhát cọ mảnh và tinh tế đến thành  không dáng.  Thơ là kết tinh của những nỗi niềm , là men rượu trắng “ uốc lủi” len sâu vào dòng máu , là là những tân toan tủi cực nén sâu vào trong tâm dù vẫn còn thoi thóp vài tia hy vọng.

Thơ là “Giấc Mơ”, giấc mơ của những vì sao tuy lung linh nhưng biệt thẳm hay hiện thực như những mái nhà của cơn ngủ mệt mỏi :

 “dưới mái nhà

một người đang ngủ

với giấc mơ của những vì sao

những vì sao đang kể truyện

giấc mơ của mái nhà

giấc mơ của một người đang ngủ”

 Thơ là Hải Phòng, của trường ca “Nhưng người trên cửa biển”, là nỗi tình tự quê hương hòa với nỗi đau thời thế :

 “ .. Tôi hay ngủ trên cầu sương

nửa đêm thức giấc

thấy mình bay cùng tinh tú

ngày đến lòng tôi xếp cánh

sao chim bay bướm lại bay lên

Tất cả tình yêu khát khao hy vọng

Bốc lên trong lòng

Rơi xuống những giọt nước mắt

Có tuổi thanh niên

Như cây mùa xuân mới mọc

Bị tước dần vỏ non

Mất chim mất bướm mất chân trời.

Lòng không biết nghĩ điều gì

Như con sơn ca bị bẫy.

Thấy mắt lưới nào sáng cũng nháy..”

 Thơ là Quy Nhơn, là :

 “ Từ trời xanh

rơi

vài giọt Tháp Chàm

quanh Quy Nhơn

tôi như đứa nhỏ yêu huyền thoại..”

Như một bức tranh tĩnh vật, giọt Tháp Chàm rơi trên trời xanh, trong cái “ tĩnh” của lặng  lẽ lại chứa đựng  cái “ động “ ghê gớm của nội tâm.  Và, từ “giọt" Tháp Chàm ấy, mở ra biết bao huyền thoại…

Thơ , còn là Hà Nội  của “ Chiếc xe xác qua phường dạ lạc” , của những bức tranh “phố Phái” với những hình ảnh và gam màu tượng hình bằng ngôn ngữ thi ca. Thơ còn là Huế của “ Một đêm đàn lạnh trên sông Huế". Và thơ, còn là Kinh Bắc với lời nhắn

 "hỡi người cưỡi ngựa về Kinh Bắc

Tôi gửi thư đưa hộ mẹ già

Cố thét song lời tôi yếu quá

Ngựa đều chân chạy, nhạc càng xa..”

Thơ Văn Cao , là quê hương, là  những nốt nhạc và nét vẽ chen nhau để phác họa trung thực và sống động tâm cảm của cả một thời. Trong ánh nến của hoài nhớ, trong rung động của tiềm thức , thơ chắt lọc tháng ngày trong đau đớn nhân sinh để tượng hình nỗi khắc khoải của bức tượng phù điêu tạc trong những cơn mê đắm của lãng mạn mơ mộng.  Thơ Văn Cao là thơ, là tinh tuyền của nỗi hoang sơ, của Thơ viết hoa , của những dòng chữ chở chuyên cả một vùng trời biển . Thơ là …

Viết về Văn Cao,  muốn đầy đủ phải đầy một tập sách . Nguyên  Văn Cao nhạc sĩ, với bao nhiêu bản nhạc , từ quân hành ca đến tình ca, từ  nhạc quê hương đến tụng ca lịch sử, từ bản quốc ca đến  trường ca “Sông Lô “, bao nhiêu đề tài , bấy nhiêu ý tưởng , bấy nhiêu chữ nghĩa… Rồi cuộc đời ông , trải dài theo những tháng năm biến động , từ vai trò của một người ám sát hoạt động nội thành, rồi tham gia Nhân văn Giai Phẩm , viết quốc ca , đến những cảnh khốn khó cùng túng trong cái bóp nghẹt từ sinh kế đến tư tưởng của chế độ chuyên chính đương thời.

Những đề tài ấy, quả là mênh mông biết bao. Làm sao chuyên chở cho hết trong một vài bài.

Tôi là một người yêu thơ. Nên trong dịp kỷ niệm ngày mất của ông , 10 tháng 7 năm 1995,  viết một đôi dòng mạo muội về thơ của một người nghệ sĩ lớn, hoàng đế của nhiều vương triều nghệ thuật như thơ -nhạc –họa.  Dù tôi lớn lên ở miền Nam, nhưng không vì thế mà thấy xa lạ với một chân dung của một Văn Cao  trong trí tưởng. Cái địa chỉ 108  phố Yết Kiêu có lẽ quen thuộc lắm. Những mái nhà phủ rêu, khuôn cửa sổ nhìn ra một mảnh trời, dốc cầu thang cổ lỗ, bờ tường loang vôi... tất cả, có lẽ sáng lên trong ánh nắng của miền đất kỷ niệm  của một hoàng hôn tưởng nhớ …