SG1


Menu



Đài Tưởng Niệm

Thuyền Nhân

Việt Nam

Tiếp Theo...

* CẦU NGUYỆN VÀ TƯỞNG NIỆM NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM 2016 TẠI NAM CALI


* 40 NĂM QUỐC HẬN LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN, BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* 30 THÁNG TƯ, TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* BI SỬ THUYỀN NHÂN (Nguyễn Quốc Cường)


* BIỂN ĐÔNG LỤC BÌNH TRÔI


* CÁI GIÁ CỦA TỰ DO


* CÁNH BÈO BIỂN CẢ (Văn Qui)


* CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ CON TÀU MANG SỐ MT065


* CẦU SIÊU BẠT ĐỘ TẠI ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM WESTMINSTER


* CHUYỆN KỂ HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG (Nhiều Tác Giả)


* CHỨNG TÍCH ĐỂ ĐỜI: ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* CHUYẾN VƯỢT BIÊN ĐẪM MÁU (Mai Phúc)


* CHUYẾN VƯỢT BIỂN HÃI HÙNG


* CON ĐƯỜNG TÌM TỰ DO (Trần Văn Khanh)


* CÒN NHỚ HAY QUÊN (Nguyễn Tam Giang)


* DẠ TIỆC VĂN NGHỆ "LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG" THÀNH CÔNG NGOÀI DỰ KIẾN CỦA BAN TỔ CHỨC


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Việt Hải)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TẠI QUẬN CAM (Vi Anh)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM: BIỂU TƯỢNG THIÊNG LIÊNG CỦA NIỀM KHÁT VỌNG TỰ DO VÀ NHÂN QUYỀN


* ĐÊM DÀI VÔ TẬN (Lê Thị Bạch Loan)


* ĐI VỀ ĐÂU (Hoàng Thị Kim Chi)


* GALANG: BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM BỊ PHÁ BỎ


* GALANG MỘT THỜI - MỘT ĐỜI (Nguyễn Mạnh Trinh)


* GIÁNG NGỌC PHỎNG VẤN NHÀ THƠ THÁI TÚ HẠP VÀ NỮ SĨ ÁI CẦM VỀ LỄ KHÁNH THÀNH ĐTNTNVN


* GIỌT NƯỚC MẮT CHO NGƯỜI TÌM TỰ DO (Lê Đinh Hùng)


* HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT


*"HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG: TỰ DO, MỘT NHU CẦU THIẾT YẾU, ĐÁNG ĐỂ TA ĐI TÌM"


*HÀNH TRÌNH GIAN NAN TÌM TỰ DO  


* HÀNH TRÌNH TÌM CON NƠI BIỂN ĐÔNG


* HÌNH ẢNH MỚI NHẤT CHUẨN BỊ KHÁNH THÀNH VÀO THÁNG 04-2009


* HÒN ĐẢO BỊ LÃNG QUÊN (Meng Yew Choong)


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ VINH DANH ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ WESTMINSTER THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT “NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM”


* KHÁNH THÀNH ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI NAM CALI


* KHẮC TÊN TRÊN BIA TƯỞNG NIỆM (Việt Hải)


* LÀN SÓNG THUYỀN NHÂN MỚI


* LỄ ĐỘNG THỔ KHỞI CÔNG XÂY DỰNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* LỄ KHÁNH THÀNH TRỌNG THỂ ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI QUẬN CAM


* LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TỔ CHỨC TRANG NGHIÊM TẠI NGHĨA TRANG WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* LÒNG NHÂN ÁI (Tâm Hồng)


* LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG (Thơ Thái Tú Hạp)


* MEMORIAL TO BOAT PEOPLE WHO DIED TO BE DEDICATED SATURDAY


* MỘT CÁI GIÁ CỦA TỰ DO (Trần Văn Hương)


* MƠ ƯỚC "MỘT NGÀY TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN" ĐÃ TRỞ THÀNH SỰ THẬT


* NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM THỨ 5


* "NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM" TỔ CHỨC TRỌNG THỂ TẠI WESTMINSTER


* NGƯỜI PHỤ NỮ SỐNG SÓT SAU CHUYẾN VƯỢT BIỂN KINH HOÀNG


* NHỮNG CHUYỆN HÃI HÙNG CỦA THUYỀN NHÂN (Biệt Hải)


* NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT ĐỀU CÓ THẬT (Ngô Dân Dụng)


* NHỮNG THÁNG NGÀY YÊU DẤU NƠI HOANG ĐẢO (Tuấn Huy)


* NỖI BẤT HẠNH ĐỜI TÔI (Thùy Yên) 


* NỖI KHỔ CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Thy Vũ Thảo Uyên)


* NƯỚC MẮT CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Nguyễn Mỹ Linh)


* SAIGON TIMES PHỎNG VẤN MỤC SƯ HÀ JIMMY CILLPAM 4 NĂM CÓ MẶT TRÊN TÀU AKUNA CỨU HƠN 5000 NGƯỜI VIỆT NAM VƯỢT BIỂN TÌM TỰ DO TRÊN BIỂN ĐÔNG


* TÀU SẮT BẾN TRE (Tú Minh)


* THẢM KỊCH BIỂN ĐÔNG (Vũ Duy Thái)


* THẢM SÁT TRÊN ĐẢO TRƯỜNG SA


* THỊ XÃ WESTMINSTER VINH DANH TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN


* THÔNG BÁO CỦA ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VN


* THƠ LÀM KHI ĐỌC TIN THUYỀN NHÂN (Viên Linh)


* THUYỀN NHÂN: ẤN TÍCH LỊCH SỬ


* THUYỀN NHÂN VÀ BIỂN ĐỘNG


* THUYỀN NHÂN VÀ MỘT VÀI HÌNH ẢNH CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN


* THUYỀN NHÂN VIỆT NAM VƯỢT BIÊN, TỬ NẠN, ĐẾN BỜ TỰ DO ĐÃ GIÚP NHÂN LOẠI NHÌN RÕ ĐƯỢC CHÂN TƯỚNG CỦA CỘNG SẢN (Lý Đại Nguyên)


* TRÔI GIẠT VỀ ĐÂU (Nguyễn Hoàng Hôn)


* TRỞ VỀ ĐẢO XƯA... (Nguyễn Công Chính)


* TỪ TẤM BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN Ở GALANG NHÌN RA CON ĐƯỜNG HÒA GIẢI


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN VIỆT NAM ĐÃ CHÍNH THỨC ĐƯA VÀO WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN ĐÃ ĐƯỢC ĐẶT VÀO VỊ TRÍ AN VỊ TRONG KHUÔN VIÊN WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30-4-2012

* VĂN TẾ THUYỀN BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* VƯỢT BIỂN (Thanh Thanh)


* VƯỢT BIỂN MỘT MÌNH (Nguyễn Trần Diệu Hương)


* XIN VỀ ĐÂY CHỨNG GIÁM, AN GIẤC NGÀN THU


* XÓA DẤU VẾT TỘI ÁC (Phạm Phú Minh)


Saigon Times USA

CẦN THƠ, QUÊ HƯƠNG TÔI

 

NGUYỄN BÁ CẨN

 

Đoàn học sinh tuổi trung bình từ 12  đến 18 đang diễn hành đều bước  trên Lộ Mới là một trong những  con đường nhộn nhịp nhất chạy  từ trung tâm thành phố Cần Thơ đến  sông Cái Khế. Con đường này,  nay được gọi là Xô Viết Nghệ  Tĩnh. Cách đây 60 năm, người Pháp  cai trị Đông Dương nên đã có  thời kỳ con Lộ Mới này được  đổi tên là Capitaine d'Hers, sau nữa đổi  thành Phan Thanh Giản cho đến năm 1975. Nó  chạy xuyên ngang một khu đông đúc  gồm có trại gia binh và trường trung  học Phan Thanh Giản ở phía Nam và khu  gia cư ở phía Bắc lên đến tận  sông Cái Khế. Cứ mỗi buổi chiều,  đến giờ thể dục thì học sinh  trung học tập đi diễn hành ngoài đường  và ca ngợi nước Pháp với  hai câu hát được Chính Phủ Pháp  tung ra, “Maréchal! Nous voilà! Devant toi le sauveur  de la France” (Thưa Thống Chế, vị cứu  tinh của nước Pháp! Chúng tôi đang  trình diện trước mặt Ngài!), để  vinh danh Thống Chế Pétain, vị anh hùng của  trận Verdun hồi thế chiến thứ I.

Năm 1941, khi Phát Xít Đức xâm chiếm  các nước Âu Châu, trong đó có  Pháp, Chánh Phủ Cộng Hòa Pháp kể  cả Quốc Hội tự động giải tán.  Quốc gia Pháp được thành lập  tại miền Nam nước Pháp dưới  quyền lãnh đạo của Thống Chế Pétain,  chủ trương hợp tác với Phát  Xít Đức để cứu vãn nước  Pháp, ít lắm là theo lời tuyên bố  của ông ta, trong lúc đại đa số người  dân Pháp hướng về Thiếu Tướng  De Gaulle, đang kêu gọi toàn quốc kháng  chiến, từ Luân Đôn (Anh Quốc) là  nơi ông đã thành lập Chính Phủ  Pháp Tự Do và lãnh đạo cuộc  chiến đánh đuổi Đức Quốc  Xã để giải phóng nước Pháp.

Nhà tôi nghèo. Quê tôi là làng  Phú Hữu, ở tận cực Nam của  tỉnh Cần Thơ, cách tỉnh lỵ độ 18  cây số. Bên nội tôi sống bằng nghề  nông. Trước năm 1945, xã Phú Hữu  cũng như tất cả các xã khác, trừ  xã tại quân lỵ, chỉ vỏn vẹn có  một lớp Đồng Ấu để dạy trẻ  con biết đọc và viết mà thôi. Với  hoài bảo cho các con ăn học để tương  lai được sáng sủa hơn là cứ  miệt mài với ruộng vườn quanh  năm suốt tháng mà không thoát cảnh  nghèo nàn, ba mẹ tôi dời lên ở  tỉnh lỵ Cần Thơ, cất nhà sát bên  cạnh trường trung học Lộ Mới,  tiện cho việc học hành của các con sau  này.

Quê tôi nghèo. Bên nội tôi gồm  khoảng 50 gia đình thuộc ba bốn thế hệ  chia nhau chiếm trọn con Kinh Nhỏ là nơi phát  nguồn của Rạch Mái Dầm giáp ranh với  tỉnh Sóc Trăng. Toàn dân trong xã làm  ruộng, hết mùa lúa ở quê nhà  thì rủ nhau bơi xuồng xuống Ba Xuyên gặt  lúa để kiếm thêm chút đỉnh, hoặc  bằng tiền hoặc bằng hiện vật là  lúa để tăng cường lợi tức  thấp kém của mình. Lúc bấy giờ  trong nước chỉ làm ruộng một mùa.  Người nào siêng năng cần cù  thì trồng thêm vài luống khoai hoặc bắp,  kiếm thêm thức ăn độn cho gia đình.  Nông thôn ta lúc bất giờ chưa biết  làm lúa hai mùa hoặc trồng rẫy qui mô  để sinh lợi. Sau khi gặt hái, còn  lại nửa năm không biết làm gì  nên dân làng thường tổ chức  cờ bạc và đá gà.

Đất nước tôi nghèo, nghèo lắm.  Hơn 90 phần trăm nhân dân sống lam lũ  ở nông thôn. Ngoại trừ một thiểu  số làm công chức và nghề tiểu  công nghệ hoặc tiểu thương, đa số  quần chúng sống trong cảnh nghèo đói  theo định nghĩa “nghèo đói” của Liên  Hiệp Quốc ngày nay. Nước nghèo lại  gặp cảnh thế chiến. Gạo thừa thải  chút đỉnh nhưng xuất cảng không được.  Ngoài ra, Pháp và Nhật tung đòn đánh  phá nhau về kinh tế gây nạn đói  ở Bắc Việt chết hàng triệu người.  Có đủ gạo thì ăn cơm, thiếu gạo  thì phải độn khoai cho đỡ đói,  và đừng mong mua được đồ  biến chế ngoại quốc vì các phe lâm  chiến phong tỏa khắp các mặt biển và  hải trình.

Trong trọn tỉnh lỵ Cần Thơ, tôi chỉ  thấy một chiếc xe hơi của Chánh Tham  Biện tức Tỉnh Trưởng người  Pháp. Lúc bấy giờ, thế giới  chưa có máy lạnh (air conditioner), và máy  truyền hình. Tôi cũng chỉ thấy có  một tủ lạnh (refrigerator) nơi tư thất  của một trong 10 gia đình giàu nhất ở  chợ Cần Thơ. Ngoài ra, từ trường  trung học cho đến sông Cái Khế, trọn  một khu gia cư dọc theo đại lộ Phan Thanh  Giản gồm có cả trăm gia đình mà  chỉ có nhà ông giáo Chưởng, thầy  dạy tôi lớp vỡ lòng tại trường  tiểu học tỉnh lỵ, là có một cái  máy phát thanh duy nhất. Chiều chủ nhật  nào, Lộ Mới cũng đông nghẹt  nơi đây vì lối xóm ngồi chiếm  nửa mặt lộ trước nhà ông  giáo này để nghe Huyền Vũ tường  thuật các trận túc cầu quốc tế  ở Sài Gòn.

Anh cả của tôi dạy học, lương khoảng  100 đồng bạc Đông Dương. Một người  anh khác làm thợ máy cho Công Chánh,  lương khoảng 70 đồng. Từng ấy  lợi tức giúp má tôi nuôi một  gia đình gồm má tôi và 8 anh em. Cho đến  khi học năm thứ ba trung học, tôi vẫn  còn mặc bà ba và mang guốc cây để  đi học như 90 phần trăm bạn bè cùng  trường. Một vài học sinh giàu mới  mua sắm được “sơ mi” và quần tây  ngắn. Ngay cả giáo sư trung học và các  công chức cũng đều mặc quần  ngắn, lý do là vì hằng 4, 5 năm kể  từ ngày thế chiến bùng nổ, không  có nhập cảng hàng vải được  nữa. Công tư chức mới mua được  một chiếc xe đạp để đi làm và  dùng cho mọi cuộc di chuyển khác sau giờ  làm việc hoặc cuối tuần. Trong lớp  học của tôi chỉ có một học sinh  duy nhất là anh Lê Đình Thêm, em vợ  kỹ sư Phan Khắc Sửu (sau cuộc Cách  Mạng và Chỉnh Lý, đảm nhận vai trò  Quốc Trưởng Việt Nam), mới có  xe đạp. Toàn dân mang guốc cuốc bộ.  Cho đến đường cát, sữa đặc  và diêm quẹt cũng phải đến Quận  Châu Thành hoặc Tòa Hành Chánh Tỉnh  xin phiếu mua dùng. Nêu lên một vài  cảnh sinh hoạt kinh tế tại tỉnh lỵ mỹ  miều Cần Thơ để biết mức độ  nghèo khổ của quê hương yêu dấu  trước 1945.

Tại tỉnh lỵ thì còn thấy người  dân ăn no mặc ấm. Nhưng khi đi sâu  vào nông thôn như tôi năm nào cũng  sống hai tháng hè tại quê nội, là  nơi mà 90 phần trăm dân ta sinh sống,  thì cảnh nghèo khó biến thành bần  cùng. Đa số nhân dân ăn mặc rách  rưới. Vì không có vải nhập cảng  nên đã bắt đầu thấy “vải ta”  xuất hiện, mình vải hết sức thô  vì được dệt bằng bông vải  nội địa và dệt bằng tay theo lối  tiểu công nghệ. Nhiều gia đình nghèo  không mua nổi vải, phải may quần áo  bằng bố tời (loại bao bố chỉ gai  màu xám lợt để làm bao đựng  lúa hoặc đựng gạo). Chính mắt  tôi chứng kiến nhiều gia đình nghèo  đến nỗi chỉ mua sắm được có  một bộ quần áo, dù là bằng bố  tời. Khi có việc phải ra khỏi nhà  thì vợ hoặc chồng mới dùng đến  bộ quần áo duy nhất đó. Ở thôn  quê chí rận nhiều, vì vừa nghèo  vừa thiếu điều kiện vệ sinh. Cho  nên trước khi mặc quần áo bằng  bố thì phải trải trên mặt phản và  lấy ve chai loại 1 lít, đè thật mạnh  và lăn qua lăn lại để giết chí  rận, đè nát lên bọn chúng, tiếng  nghe “răng rắc”.

Đó là thực tế đời sống  ở miền Nam trước khi thế chiến  II chấm dứt. Những mỹ từ thường  được dùng như “Hòn Ngọc Viễn  Đông” để ám chỉ Sài Gòn, bao  lơn Thái Bình Dương khi nói đến  Việt Nam, và “Tây Đô bên bờ  sông Hậu” cũng chỉ nhằm an ủi niềm  đau khổ thấp hèn của người dân  thuộc địa mà thôi. Có lẽ độc  giả thắc mắc tại sao ai cũng nói miền  Nam Việt Nam, nhất là miền Tây là một  vùng giàu có nhất trong nước, thế  mà tại sao tôi lại mô tả đen tối  đến thế.

Miền Tây Việt Nam còn được gọi  là Hậu Giang chỉ có lúa ruộng. Phần  lớn đất đai do người Pháp  khai khẩn, như tại Cần Thơ có một  số đồn điền người Pháp canh  tác ruộng lúa tại những vùng Thới  Lai, Cờ Đỏ và miệt kinh xáng như  Kinh Bảy Ngàn. Nếu không ở trong tay  của Pháp thì cũng ở trong tay của  Hoa Kiều vốn dĩ có nhiều vốn liếng  lại còn được hưởng đặc  quyền đặc lợi thụ đắc qua các  hiệp ước ký kết với Triều  Thanh trong tinh thần Pháp Hoa lưỡng lợi,  chia sẽ miếng mồi thuộc địa. Có một  số chủ điền Việt Nam có từ năm,  mười cho đến vài trăm mẫu ruộng  do hai ba đời cần cù làm lụng tiết  kiệm để tậu mãi. Còn lại đa  số là tiểu điền chủ có từ  một vài sào cho đến một hai mẫu  ruộng là cùng. Gặt hái xong được  vài chục hoặc vài trăm giạ lúa,  một số để dành làm giống cho mùa  sau, còn lại để ăn trong năm, thiếu  trước hụt sau. Đại đa số người  dân trong xã không có ruộng phải xin  thuê ruộng để canh tác, được  gọi là tá điền, lại còn nghèo  hơn tiểu điền chủ hai ba bậc. Trong đại  đa số này có một số khá đông  không thuê được ruộng thì đi  làm công cho chủ điền, từ công  việc cày bừa, gieo cấy cho đến khi  gặt hái, được trả “lương chết  đói” bằng hiện vật là lúa.

Đừng đánh giá Hậu Giang giàu  sang khi nhìn thấy một số đại điền  chủ người Việt hoặc Minh Hương  (Việt lai Tàu) sinh sống thảnh thơi hoặc  khi đọc truyện các công tử Bạc  Liêu phung phí tài sản trong đó có  Cậu Ba Qui con của một đại điền chủ  giàu khét tiếng miền Tây, mỗi cuối  tuần tự lái máy bay riêng lên Sài  Gòn khiêu vũ trác táng với gái  “hạng sang” tột bực, đến chiều thứ  hai mới lái về nhà. Do đó, mỗi  chiều thứ hai, trẻ con chúng tôi ở  Lộ Mới thường tụ tập để  đón xem máy bay của “Cậu Ba” bay ngang tỉnh  lỵ, trên đường về Bạc Liêu.

Trong thời gian thế chiến II, Toàn Quyền  Pháp tại Đông Dương không theo đường  lối của nước Pháp Tự Do do De  Gaulle lãnh đạo, mà lại nghiêng về  Chính Phủ Vichy, tức là chính phủ  hợp tác với phe Trục (Đức/Ý/Nhật)  ngỡ mong được Nhật Bản để  yên. Hy vọng này trở nên hão huyền  vì ngày 9/3/1945, Nhật Bản đảo chính  Đông Dương để làm bàn đạp  tiến chiếm Mã Lai và Singapore. Chính Phủ  Trần Trọng Kim ra đời, rồi tiếp đến  “Cách Mạng Mùa Thu”, Hoàng Đế Bảo  Đại thoái vị để làm công dân  một nước độc lập. Từ trước  năm 1944, Đảng Cộng Sản Đông Dương,  với một số cán bộ nòng cốt  được huấn luyện tại Moscow về  đấu tranh giai cấp và cách mạng lật  đổ chính quyền, đã biết lợi  dụng thời cơ tổ chức kháng chiến  đánh phá Nhật Bản, mục đích là  mua lòng Trung Hoa và Hoa Kỳ để được  viện trợ vũ khí của hai nước  này hầu phát triển lực lượng  võ trang của họ. Cộng Sản đã lấn  lướt các phe phái Quốc Gia trên bình  diện chính trị và ngoại giao.

Về nội bộ thì Cộng Sản sẵn có  cái vốn kỹ thuật xách động quần  chúng đấu tranh nên đã chiếm ưu  thế lãnh đạo trong các tổ chức  cứu quốc như Ủy Ban Giải Phóng Dân  Tộc và sau đó là Cộng Sản liên  minh với Việt Nam Cách Mệnh Đồng  Minh Hội của Nguyễn Hải Thần, Quốc Dân  Đảng của Vũ Hồng Khanh và Đại  Việt Dân Chính của Nguyễn Tường  Tam. Đến khi Nhật Bản đầu hàng và  Chánh Phủ Trần Trọng Kim từ chức,  thì thời thế đã chín muồi cho  Cộng Sản Hồ Chí Minh phát động quần  chúng biểu tình áp lực Bảo Đại  và dư luận toàn quốc phải để  cho Việt Minh thành lập chính phủ. Cộng  Sản vừa có kế hoạch, vừa có  cán bộ cuồng nhiệt và liều lĩnh  để thực thi kế hoạch, nên ngày  17/8/1945, bọn chúng đã biến cuộc biểu  tình tại Nhà Hát Lớn Hà Nội,  thay vì để ủng hộ Chính Phủ Trần  Trọng Kim, thành ủng hộ Việt Minh và  bất thần cho cán bộ đến chiếm Tòa  Công Sứ một cách dễ dàng.

Tại Sài Gòn cũng vậy, trong lúc cán  bộ Cộng Sản do Moscow đào tạo Trần  Văn Giàu thuyết phục Mặt Trận Quốc  Gia Thống Nhất gồm có Đại Việt,  Cao Đài và Hòa Hảo gia nhập VNĐLĐMH  để giải phóng đất nước thì  được tin Bảo Đại mời Việt  Minh thành lập chính phủ. Do đó mà  Mặt Trận tuyên bố giải tán để  trở thành Ủy Ban Lâm Thời Nam Bộ  do Trần Văn Giàu cầm đầu. Cứ  như thế mà Cộng Sản nhờ núp  dưới chiêu bài Việt Minh kháng chiến  lần lượt tiếm thâu quyền hành  từ Hà Nội, Huế, Sài Gòn và  các tỉnh trong toàn quốc. Tại Nam Kỳ,  lúc bấy giờ Phật Giáo Hòa Hảo  do Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ sáng  lập thu hút hàng triệu tín đồ. PGHH  chủ trương “hành Đạo giúp Đời”  và đặt Ân Đất Nước lên  hàng đầu trong Tứ Ân Hiếu Nghĩa.  Do đó các tôn giáo khác, các chánh  đảng và đoàn thể yêu nước  qui tụ lại thành Mặt Trận Quốc Gia Liên  Hiệp do Đức Thầy lãnh đạo với  sứ mệnh đánh đuổi Pháp để  tranh thủ độc lập cho nước nhà.

Chủ Tịch Ủy Ban Hành Chánh Nam Bộ của  Việt Minh là đảng viên Cộng Sản  Trần Văn Giàu lo ngại uy thế của Đức  Thầy và Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp.  Sẵn dịp ngày 8 tháng 9 năm 1945, lãnh  tụ PGHH Năm Lửa ở miền Tây tổ  chức biểu tình hàng ngàn người  tại Cần Thơ để kêu gọi nhân  dân ủng hộ Chính Phủ Việt Minh và  yêu cầu võ trang quần chúng để chống  xâm lăng, Trần Văn Giàu chụp mũ  Hòa Hảo nổi loạn để đàn áp  cuộc biểu tình và bắt giữ một  số tín đồ PGHH, mặc dù cuộc biểu  tình đã được thông báo trước  cho nhà cầm quyền địa phương. Ngày  hôm sau, tức ngày 9 tháng 9, Trần Văn  Giàu cho Quốc Gia Tự Vệ Cuộc bao vây  trụ sở PGHH tại Sài Gòn để lùng  bắt Đức Thầy nhưng Đức Thầy  thoát nạn.

Thế chiến thứ II vừa chấm dứt  thì Chính Phủ Pháp do De Gaulle lãnh đạo  mang quân qua tái chiếm thuộc địa cũ  là Nam Kỳ. Tuy Việt Minh chưa ra lệnh “Tiêu  thổ kháng chiến”, nhưng chỉ thị dân  chúng thi hành chánh sách “Vườn không  nhà trống”, bỏ trống thành thị tản  cư về quê.. Quân đội Pháp sau khi  chiếm xong Sài Gòn đang chuẩn bị tiến  đánh các tỉnh. Trước khi chiến  cuộc lan tràn đến tỉnh nhà, mẹ tôi  hướng dẫn trọn gia đình di tản  bằng đường thủy về quê ngoại  tại quận lỵ Tam Bình thuộc tỉnh Vĩnh  Long. Gia đình chúng tôi chỉ kịp mang theo  quần áo và mùng mền, bỏ lại tất  cả tài sản, khóa cửa nhà lại  để xuống ghe từ chợ Cần Thơ  theo sông Cửu Long xuôi miền Nam đến  Trà Ôn rồi nương theo kinh đào đến  quận Tam Bình. Ghe vừa đến ngang quận  lỵ thì thấy dân chúng tập họp đông  đảo khác thường tại cầu tàu.  Đến khi lại gần thì chứng kiến  một cảnh tượng hãi hùng. Trên  cầu tàu, một người tuổi độ  tứ tuần bị lột áo để mình  trần, đang bị cán bộ Cộng Sản hành  quyết bằng cách mỗ bụng vì tội đàn  áp phong trào “Nam Kỳ Khởi Nghĩa” của  Cộng Sản trước đó vài năm.  Nạn nhân là một cựu Chánh Tổng  trước kia có cộng tác với cơ  quan an ninh của chính quyền Pháp ruồng bắt  cán bộ Cộng Sản tổ chức khá  đông tại Tam Bình. Một hai tuần sau đó,  tôi có dịp chứng kiến một loạt  hành quyết khác tại các xã xung quanh  quận lỵ. Khác với lần đầu mỗ  bụng, các lần sau Cộng Sản chặt đầu  các nạn nhơn bằng mã tấu. Thì ra,  thay vì dùng súng, Cộng Sản cố tình  dùng những phương pháp rùng rợn  hơn như chặt đầu và mỗ bụng moi  gan để gây khiếp đảm và khủng  bố tinh thần dân chúng.

Tạm trú tại Tam Bình độ một tháng  thì được tin quân đội Pháp  tiến đánh Vĩnh Long nên gia đình tôi  lại phải xuống ghe đi qua xã Phú Hữu  phía cực Nam của tỉnh Cần Thơ. Gia  đình tôi tạm trú tại nhà bà  nội tôi ở ấp Kinh Nhỏ. Bà ở  một mình trong một căn nhà ba gian, khá  lớn. Gian giữa có bàn thờ tổ  tiên, cùng một bộ tràng kỷ gõ đen,  cẩn ốc xa cừ để tiếp khách.  Hai bộ phản bằng ván gõ dầy 1 tấc  chiếm phía trước hai gian bìa, còn  phía sau thì hai phòng ngủ có cửa  gài khóa lại. Phía sau bề ngang rộng  ba gian dùng làm kho, sát vách hè có  10 mái đầm (lu cỡ thật lớn ở  miền Tây), 5 mái chứa nước mưa  để uống quanh năm, 5 mái còn lại  đựng lúa giống để gieo mạ mùa  lúa tới.

Sở dĩ nhà nội tôi có phần khá  hơn bà con trong xóm vì khi sanh tiền, ông  nội tôi bao tá được vài chục  mẫu ruộng. Sau khi ông qua đời, bà  tôi chỉ còn giữ lại ngôi nhà,  còn lợi tức cũng chỉ đủ sống  đấp đổi qua ngày như đa số bà  con nghèo khác. Hai anh tôi mỗi người  được Ủy Ban Kháng Hành Tỉnh (Kháng  chiến Hành chánh) phát cho hai tháng lương.  Mẹ tôi rất tiện tặn vì dự trù  có thể tản cư cả năm thì phải  lo kinh tế tự túc chớ đâu thể  ỷ lại vào hai tháng lương này được.  Lớn nhỏ đều đổ ra đồng làm  rẫy, hàng ngang hàng dọc. Nào là dọc  theo mương thì thả giàn trồng bầu,  bí đao, mướp, dưa leo, khổ qua, v.v..  Tận dụng các khoảng đất trống xung  quanh nhà để trồng các loại đậu  xanh, đỏ, đen, cùng bí rợ, và  các loại cải trắng, cải xanh, cải rổ,  v.v.. Ngoài công việc trồng trọt, còn  phải nghĩ đến thịt, cá để tăng  cường dinh dưỡng. Tôi và người  anh thứ tư của tôi tổ chức giăng  câu, thả chà dưới sông, đặt  lọp, lưới cá, mò tôm, v.v.. Các  em nhỏ tôi thì chăn nuôi, săn sóc  các bầy gà vịt, lượm trứng,  cho ấp nở các bầy khác, Gia đình  chúng tôi ít được dùng gà  vịt vì phải dành để đổi lấy  gạo, đường, nước mắm, và  các loại vật dụng khác mỗi khi có  “ghe hàng” thổi “tù và” báo cho đồng  bào trong xóm đến đổi chác cho nhanh  vì ghe còn phải qua các làng khác.

Chỉ tại vùng đồng bằng Cửu Long  ở Miền Tây là câu tục ngữ  “trời sinh voi sinh cỏ” có ý nghĩa nhất.  Đừng có lo. Đến mùa mưa lúa  lớn mạnh như thổi cùng với tôm  cá sinh sản tràn đồng. Kịp đến  ruộng khô không còn tôm cá nữa  thì đến mùa lúa chín, là mùa  chim và chuột ăn lúa chín mập tròn.  Còn rắn thì nhờ bắt được  nhiều chuột hơn trước nên cũng  to béo hẳn lên. Chim thì “rô-ti”, rắn  thì nấu cháo đậu xanh. Thịt chim hay rắn  đều có thể bầm nhỏ xào củ hành  xúc bánh tráng, lớn nhỏ đều  ưa thích. Chuột thì thui rồi lột da, vứt  bỏ đồ lòng, giữ lại mỡ sa  để thắng thành dầu thắp đèn  ban đêm. Thân chuột banh ra mập trắng  như heo sữa bày bán ở các sạp  thịt nhà lồng chợ. Món anh em tôi  thích nhất là chuột ớp sả ớt,  kẹp nướng than hồng, ăn với cơm  trắng và nước mắm tỏi ớt.  Tuy nhiên, trong các tháng nước kém,  cạn lòi lòng sông, cá tôm hoàn  toàn biến mất. Chuột rắn cũng không  còn. Nhiều hôm không tìm được  gì thì lấy nước mắm kho sệt lại  để ăn với rau luộc. Có sống  ở nông thôn mới biết nước  mình nghèo. Có chia sẻ cọng rau hột muối  với nông dân mới thương dân  mình nghèo, dân mình đói.