Menu



Đài Tưởng Niệm

Thuyền Nhân

Việt Nam

Tiếp Theo...

* LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TỔ CHỨC TRANG NGHIÊM TẠI NGHĨA TRANG WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* 30 THÁNG TƯ, TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* BI SỬ THUYỀN NHÂN (Nguyễn Quốc Cường)


* BIỂN ĐÔNG LỤC BÌNH TRÔI


* CÁI GIÁ CỦA TỰ DO


* CÁNH BÈO BIỂN CẢ (Văn Qui)


* CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ CON TÀU MANG SỐ MT065


* CẦU SIÊU BẠT ĐỘ TẠI ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM WESTMINSTER


* CHUYỆN KỂ HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG (Nhiều Tác Giả)


* CHỨNG TÍCH ĐỂ ĐỜI: ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* CHUYẾN VƯỢT BIÊN ĐẪM MÁU (Mai Phúc)


* CHUYẾN VƯỢT BIỂN HÃI HÙNG


* CÒN NHỚ HAY QUÊN (Nguyễn Tam Giang)


* DẠ TIỆC VĂN NGHỆ "LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG" THÀNH CÔNG NGOÀI DỰ KIẾN CỦA BAN TỔ CHỨC


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Việt Hải)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TẠI QUẬN CAM (Vi Anh)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM: BIỂU TƯỢNG THIÊNG LIÊNG CỦA NIỀM KHÁT VỌNG TỰ DO VÀ NHÂN QUYỀN


* ĐÊM DÀI VÔ TẬN (Lê Thị Bạch Loan)


* ĐI VỀ ĐÂU (Hoàng Thị Kim Chi)


* GALANG: BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM BỊ PHÁ BỎ


* GALANG MỘT THỜI - MỘT ĐỜI (Nguyễn Mạnh Trinh)


* GIÁNG NGỌC PHỎNG VẤN NHÀ THƠ THÁI TÚ HẠP VÀ NỮ SĨ ÁI CẦM VỀ LỄ KHÁNH THÀNH ĐTNTNVN


* GIỌT NƯỚC MẮT CHO NGƯỜI TÌM TỰ DO (Lê Đinh Hùng)


* HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT


*"HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG: TỰ DO, MỘT NHU CẦU THIẾT YẾU, ĐÁNG ĐỂ TA ĐI TÌM"


*HÀNH TRÌNH GIAN NAN TÌM TỰ DO


* HÀNH TRÌNH TÌM CON NƠI BIỂN ĐÔNG


* HÌNH ẢNH MỚI NHẤT CHUẨN BỊ KHÁNH THÀNH VÀO THÁNG 04-2009


* HÒN ĐẢO BỊ LÃNG QUÊN (Meng Yew Choong)


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ VINH DANH ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ WESTMINSTER THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT “NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM”


* KHÁNH THÀNH ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI NAM CALI


* KHẮC TÊN TRÊN BIA TƯỞNG NIỆM (Việt Hải)


* LÀN SÓNG THUYỀN NHÂN MỚI


* LỄ ĐỘNG THỔ KHỞI CÔNG XÂY DỰNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* LỄ KHÁNH THÀNH TRỌNG THỂ ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI QUẬN CAM


* LÒNG NHÂN ÁI (Tâm Hồng)


* LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG (Thơ Thái Tú Hạp)


* MEMORIAL TO BOAT PEOPLE WHO DIED TO BE DEDICATED SATURDAY


* MỘT CÁI GIÁ CỦA TỰ DO (Trần Văn Hương)


* MƠ ƯỚC "MỘT NGÀY TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN" ĐÃ TRỞ THÀNH SỰ THẬT


* "NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM" TỔ CHỨC TRỌNG THỂ TẠI WESTMINSTER


* NGƯỜI PHỤ NỮ SỐNG SÓT SAU CHUYẾN VƯỢT BIỂN KINH HOÀNG


* NHỮNG CHUYỆN HÃI HÙNG CỦA THUYỀN NHÂN (Biệt Hải)


* NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT ĐỀU CÓ THẬT (Ngô Dân Dụng)


* NHỮNG THÁNG NGÀY YÊU DẤU NƠI HOANG ĐẢO (Tuấn Huy)


* NƯỚC MẮT CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Nguyễn Mỹ Linh)


* SAIGON TIMES PHỎNG VẤN MỤC SƯ HÀ JIMMY CILLPAM 4 NĂM CÓ MẶT TRÊN TÀU AKUNA CỨU HƠN 5000 NGƯỜI VIỆT NAM VƯỢT BIỂN TÌM TỰ DO TRÊN BIỂN ĐÔNG


* TÀU SẮT BẾN TRE (Tú Minh)


* THẢM KỊCH BIỂN ĐÔNG (Vũ Duy Thái)


* THẢM SÁT TRÊN ĐẢO TRƯỜNG SA


* THỊ XÃ WESTMINSTER VINH DANH TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN


* THÔNG BÁO CỦA ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VN


* THƠ LÀM KHI ĐỌC TIN THUYỀN NHÂN (Viên Linh)


* THUYỀN NHÂN: ẤN TÍCH LỊCH SỬ


* THUYỀN NHÂN VÀ BIỂN ĐỘNG


* THUYỀN NHÂN VÀ MỘT VÀI HÌNH ẢNH CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN


* THUYỀN NHÂN VIỆT NAM VƯỢT BIÊN, TỬ NẠN, ĐẾN BỜ TỰ DO ĐÃ GIÚP NHÂN LOẠI NHÌN RÕ ĐƯỢC CHÂN TƯỚNG CỦA CỘNG SẢN (Lý Đại Nguyên)


* TRÔI GIẠT VỀ ĐÂU (Nguyễn Hoàng Hôn)


* TRỞ VỀ ĐẢO XƯA... (Nguyễn Công Chính)


* TỪ TẤM BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN Ở GALANG NHÌN RA CON ĐƯỜNG HÒA GIẢI


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN VIỆT NAM ĐÃ CHÍNH THỨC ĐƯA VÀO WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN ĐÃ ĐƯỢC ĐẶT VÀO VỊ TRÍ AN VỊ TRONG KHUÔN VIÊN WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30-4-2012

* VĂN TẾ THUYỀN BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* VƯỢT BIỂN (Thanh Thanh)


* VƯỢT BIỂN MỘT MÌNH (Nguyễn Trần Diệu Hương)


* XIN VỀ ĐÂY CHỨNG GIÁM, AN GIẤC NGÀN THU


* XÓA DẤU VẾT TỘI ÁC (Phạm Phú Minh)


Saigon Times USA

LÀNG TRANH ĐÔNG HỒ XỨ BẮC

 

NGUYỄN HIẾN LÊ

Nam Việt là một “tặng phẩm” của sông Cửu Long. Hàng vạn năm trước là biển, sông Cửu Long chở phù sa xuống, rồi lần lần mà thành đồng ruộng. Thời tiền chiến, tôi không nhớ rõ là năm một ngàn chín trăm ba mươi mấy, người ta đào được những đồng tiền vàng La Mã ở Óc Eo (gần chân núi Ba Thê), vậy thì khoảng đầu công nguyên, biển vô tới Óc Eo hoặc cách Óc Eo không bao xa, chỉ vài ba cây số. Hồi đó các núi ở Hà Tiên, Ba Hòn, Hòn Trẹm chắc còn nằm ở ngoài biển, không biết từ thế kỷ thứ mấy, miền ấy mới được bồi xong. Ngày nay ai đi ngang qua Ba Hòn, còn thấy trên những núi đá vôi ở sát lộ Rạch Giá – Hà Tiên, có những ngấn nước cao hơn mặt đất khoảng một thước. Vậy thì vùng bờ biển ở đó chắc cũng đã dâng lên nữa, ngoài hiện tượng được phù sa bồi.
Dãy núi từ Hà Tiên tới Hòn Trẹm ấy hiện nay nằm sát hoặc gần bờ biển, nhìn ra các hòn ngoài khơi: hòn Phụ tử, hòn Heo, hòn Phú Quốc...và quay lưng lại một cánh đồng bát ngát (xưa là rừng, nay vẫn là còn đất phèn), xa xa vài chục cây số mới có dãy núi Thất Sơn. Như vậy Hà Tiên là một miền hẻo lánh ở nơi chân trời góc biển. Trước năm 1930, khi chưa có con đường trải đá Rạch Giá Hà Tiên thì thị trấn ấy gần như cô lập với các miền chung quanh: muốn xuống Rạch Giá phải dùng đường biển, mất nửa ngày, mà muốn vô Châu Đốc thì phải đi vòng lên biên giới, mượn một con đường trên phần đất Cao Miên.
Nó đã cô lập mà lại kỳ đặc, không giống một miền nào khác. Thi sĩ Đông Hồ trong cuốn Văn Học Hà Tiên(1) đã tả nó như sau:
“Ở đó (Hà Tiên), kỳ thú thay, như gồm hầu đủ hết. Có một ít hang sâu động hiểm của Lạng Sơn. Có một ít ngọn đá chơi vơi giữa biển của Hạ Long. Có một ít núi vôi ở Ninh Bình, một ít thạch thất sơn môn của Hương Tích. Có một ít Tây Hồ, một ít Hương Giang. Có một ít chùa chiền của Bắc Ninh, lăng tẩm của Thuận Hóa. Có một ít Đồ Sơn, cửa Tùng, có một ít Nha Trang, Long Hải. Ở đây không có một cảnh nào to lớn đầy đủ; ở đây chỉ nhỏ nhắn, xinh xinh, mà cảnh nào cũng có.”
Tóm lại, nó là một tiểu vũ trụ biệt lập, rất hợp cho kẻ nào có chí vẫy vùng, muốn nghênh ngang một cõi.
HỌ MẠC
Kế đó là họ Mạc ở cuối thế kỷ 17. Cũng như Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch, Mạc Cửu không chịu nhận chủ quyền Mãn Thanh, bỏ quê hương mà dắt bộ hạ xuống miền Nam Hải, nhưng Trần và Dương ghé vào Quảng Nam (1679) qui phục chúa Nguyễn Phúc Tần, được chúa cho vào chiếm đất Đồng Nai và Mỹ Tho để tự kinh lý lấy mà lập nên một nơi buôn bán thịnh vượng là Cù Lao Phố(Biên Hòa); còn Mạc thì tiến xa hơn, tới địa phận Chân Lạp (cũng gọi là Giản Phố trại) – tức Cao Miên, tức Campuchia – vào khoảng 1671 (theo Trần Kinh Hòa trong Hà Tiên Mạc Thị Thế Hệ Khảo – Hoa Cương học báo) làm chức “ốc nha”, một chức quan lớn Chân Lạp năm 1700 xin vua Chân Lạp ra khai khẩn miền Banteay Meas, tức Mang Khảm, mới đầu mở sòng bạc, sau qui tụ các người Hoa, Việt, Miên lập ấp, mở hải khẩu, thành lập một tiểu quốc nhưng thường bị giặc Xiêm quấy nhiễu, nên năm 1708, nhận sự bảo hộ của chúa Nguyễn Phúc Chu. Mang Khảm từ đó đổi tên là Hà Tiên, thành một cửa ngõ Chân Lạp mà thuộc về Việt Nam, xuất cảng hầu hết các sản phẩm Chân Lạp.
Nếu chỉ là một hải khẩu thì dù tàu ghe tấp nập, cũng chưa có gì đặc biệt. Điều đáng cho ngày nay chúng ta nhắc nhở nhất là tiểu quốc đó chỉ trong nửa thế kỷ đã thành “một văn hiến quốc” ở giữa một miền hẻo lánh, y như một đầm sen giữa cánh đồng hoang vậy, khiến ai cũng phải ngạc nhiên.
Công ấy là nhờ Mạc Thiên Tích (2), con của Mạc Cửu. Thiên Tích kế nghiệp cha, là đô đốc Hà Tiên năm 1735, thì ngay năm sau, 1736, thành lập Chiêu Anh các, một tao đàn kiêm một nghĩa thục, có thờ Khổng Tử. Ông cha Trung Hoa, mẹ Việt (3), rất đa tài: trị nước, ngoại giao, cầm quân, đặc biệt là có tài văn thơ mà lại rất trọng tiếng Nôm, chiêu tập được 36 (có sách chép là 32) văn nhân thi sĩ vô Chiêu Anh các (gọi là tam thập lục kiệt), trong số đó sáu vị là người Việt còn thì là người Trung Hoa, người Minh Hương, họ từ Thuận, Quảng vô hoặc từ Gia Định tới, hoặc từ Quảng Đông, Phúc Kiến sang. Thiên Tích làm nguyên soái.
Theo Trịnh Hoài Đức, họ sáng tác được sáu bộ sách gồm ba tập truyện và ba tập thơ. Ba tập truyện này đã lạc con ba tập thơ thì có lẽ là:
_Tập Hà Tiên Thập Vịnh gồm 320 bài (4), toàn bằng thơ Hán, mỗi bài do Mạc Thiên Tích chủ xướng, còn các bài kia do các vị trong Chiêu Anh các họa.
_Tập Hà Tiên Thập Cảnh Khúc Vịnh bằng thơ Nôm của Mạc Thiên Tích.
_Tập Minh Bột Di Ngư Thi Thảo gồm những bài thi, phú chữ Hán cũng của Thiên Tích.
Hai tập truyện trên còn truyền được trọn vẹn, tập cuối nay chỉ còn sót được vài bài.
Những sáng tác của nhóm Chiêu Anh các nổi tiếng ngay từ thời đó, và Lê Quí Đôn trong tập Phủ Biên Tạp Lục (1776) đoạn chép về họ Mạc ở trấn Hà Tiên, khen rằng: “Không thể bảo ở hải ngoại xa xôi không có văn chương”, rồi trong Kiến Văn Tiểu Lục lại khen: “Văn thơ nhiều bài hay lắm”. Có giá trị nhất là những bài thơ cả Hán lẫn Nôm của Mạc Thiên Tích. Ngay những người ngoại quốc cũng nhận Hà Tiên là đất văn hiến. Các giáo sĩ dòng Franciscan bảo: “Trong xứ (Hà Tiên) có miếu thờ Khổng Tử mà từ vương (tức Thiên Tích) đến dân ai cũng thờ. Có một nhà nghĩa học dạy các thanh niên ưu tú, nghèo không thể tự túc theo học được. Những người Trung Hoa sang đây mà có khả năng văn học thời mới được mời đến đó dạy học” (5).
Còn sách Văn Hiến Thông Khảo đời Thanh vào năm 1747 chép rằng “phong tục (Hà Tiên) trong văn học , thích thi thơ, có cả một hàn lâm viện nhỏ”(6).
Trong khi đó thì đừng nói chi Gia Định, ngay ở Thuận Hóa cũng chẳng có một thi đàn nào cả. Sự kiện ấy quả thực chưa hề xảy ra trong lịch sử văn học. Ta thử tưởng tượng một nhóm người di cư qua một nước tuy là đồng văn nhưng vẫn là lạ, dựng nghiệp ở một nơi hẻo lánh nhất, mà chỉ nửa thế kỷ sau, làm cho nơi đó trở thành một đất văn bậc nhất trong cõi góp công vào văn học xứ đó bằng chữ của mình và bằng cả thổ ngữ, thì có lạ không chứ?
Tiếc thay nền văn học Hà Tiên bừng lên rực rỡ được 31 năm; đến năm 1771, Hà Tiên bị quân Xiêm đánh chiếm, Thiên Tích phải chạy về Gia Định. Chiêu Anh các tan rã, sách vở bị thiêu hủy, năm 1778 Thiên Tích phải trốn tránh Tây Sơn, qua Xiêm, và hai năm sau, 1780 ông tuẫn tiết ở kinh đô Xiêm; từ đó Hà Tiên cũng cùng với họ Mạc mà suy tàn.

HỌ LÂM
Trong một trăm rưỡi năm, Hà Tiên thiêm thiếp ngủ yên trên bờ vịnh Thái Lan, chỉ còn là một thị trấn nhỏ ở biên giới không ai nhớ tới. Tới khoảng 1926-1928 nó mới được nhắc nhở, vì là quê hương của Đông Hồ Lâm Tấn Phác, một nhà văn mới cầm bút mà đã nổi tiếng ngay về bài khóc vợ Linh Phượng (tức Trác Chi lệ ký tập – Trác Chi là tên tự của ông, Đông Hồ là tên hiệu), và bài phú Đông Hồ, lại sáng lập Trí Đức học xá, trường đầu tiên trong nước chuyên dạy tiếng Việt.
Ngày nay tên Đông Hồ đã quá quen thuộc, phải lùi lại thời đó, trên bốn chục năm trước, mới thấy ngôi sao Đông Hồ rực rỡ ra sao. Khắp nước chỉ có mỗi một tạp chí văn học, tờ Nam Phong; ai muốn được coi là trí thức cũng phải đọc Nam Phong, có thể nói ở Nam Việt làng nào cũng có người mua dài hạn Nam Phong; mà nhóm Nam Phong hầu hết gồm các học giả Bắc, chỉ có vài nhà gốc ở Trung. Vậy mà một người Nam, lại ở Hà Tiên nữa, mới ngoài hai mươi tuổi, chẳng có bằng cấp thành tích gì cả mà chen chân được vào cái “hội” đó thì quả là phi thường. Chẳng những chen chân lại còn được sắp vào hàng kiện tướng, viết nhiều và đủ loại, thơ, nghị luận, tùy bút, lịch sử, du ký. Đặc biệt nhất là giọng văn, y như của một nhà cựu học đất Bắc có pha chút tân học, bóng bẩy, tô chuốt, du dương, trang trọng, thường dùng tiếng Bắc, khác hẳn giọng quá tự nhiên và hơi thô của các cây bút trong Nam thời đó.
Sở trường ấy của ông, khoảng mười năm nay một số người chê là sở đoản. Trong văn chương cũng như trong mọi nghệ thuật khác, thị hiếu thường thay đổi, có vậy mới tiến hóa, nhưng có người quá khích không nhận ông là nhà văn miền Nam nữa, trách ông sao không theo trào lưu văn học miền Nam từ trước tới đầu thế chiến vừa rồi, nghĩa là trào lưu văn học bình dân, giữ màu sắc và ngôn ngữ địa phương, chẳng hạn như văn Hồ Biểu Chánh.
Dĩ nhiên những lời chê đó tới tai ông, nhưng tôi không bao giờ thấy ông lên tiếng, chỉ mới rồi trong cuốn Văn Học Hà Tiên, ông gián tiếp trả lời như sau:
“Đọc những sách báo quốc ngữ miền Nam xuất bản khoảng từ 1900 đến 1920, chúng ta thấy có một lối viết lỏng lẻo hời hợt, mất hẳn văn hóa cố hữu, tế nhị, cổ truyền của hai miền Trung, Bắc(...) Mãi cho đến sau thế chiến thứ nhất 1914-1918, nhờ cuộc giao thông tiện lợi, phong tráo sách báo ở Hà Nội truyền được vào Nam, tình trạng bế tắc này mới thay đổi: Bắt đầu là Nam Phong tạp chí (1917-1934), rồi đến báo Phong Hóa, Ngày Nay ở Hà Nội (1932-1940), báo Tiếng Dân ở Huế (1927) (...) Và từ năm 1925 về sau, có những nhà thơ, nhà văn già từ miền Bắc, miền Trung vào làm báo ở Sài Gòn, như Tản Đà, Ngô Tất Tố, Phan Khôi, Đào Trinh Nhất, Bùi Thế Mỹ, Thiếu Sơn v.v... Chính họ là sứ giả văn hóa cho thời kỷ này (...) Từ đó văn học miền Nam dần dần khởi sắc và cũng từ đó mất dần tính cách đặc thù địa phương mà hòa đồng, thống nhất với văn học dân tộc hai miền Trung, Bắc.”
Vậy chủ trương của ông thật rõ rệt: phụng sự văn hóa dân tộc chứ không phải văn học địa phương, để thống nhất ba miền. Sở dĩ ông có chủ trương ấy – từ hồi nào tôi không rõ, nhưng chắc là sớm lắm – là nhờ ông sinh ở Hà Tiên trong một gia đình nho học.
Hà Tiên thuộc về miền Tây mà miền Tây chịu ảnh hưởng đậm của lưu dân Trung Hoa. Sách Văn Hiến Thông Khảo (do Hãng Nguyên trích bài dẫn trên) chép về sinh hoạt ở Hà Tiên thời Mạc Thiên đến Hà Tiên, để độc giả thấy rõ hai ông bà đã đền đáp cho nơi chôn nhau cắt rốn được những gì. Phần đó là phần hai ông bà quan tâm tới suốt đời mà cũng rất quan trọng, nhưng từ trước tới nay ít ai để ý tới.
Ở trên tôi đã dẫn một đoạn Đông Hồ tả Hà Tiên, và độc giả đã thấy lòng yêu quê hương của ông ra sao, ông cho Hà Tiên gồm đủ các thắng cảnh trong nước, không khác gì một Việt Nam thu nhỏ lại cho thêm phần xinh xinh mà dễ thưởng ngoạn.
Ngay từ khi mới nhập tịch làng văn, Đông Hồ đã giới thiệu quê hương với độc giả Nam Phong. Năm 1926 ông viết thêm Hà Tiên Mạc Thị Sử (Nam Phong số 107) theo một bản Nôm của Trần Đình Quang hồi đầu thế kỷ. Ba năm sau ông can đảm nhận rằng “vì sở học còn kém mà không tìm được bản chánh gia phả họ Mạc” nên thiên đó “còn khiếm khuyết, sai suyển rất nhiều, không thể để lầm cho người đời sau được”, và ông viết lại, Nam Phong số 143 (năm 1929) đăng lại. Lần này ông dùng bản Hán văn Mạc Thị Gia Phả của Vũ Thế Dinh, tự là Thân Vi, viết năm 1818. Tài liệu này tới nay vẫn được coi là tài liệu chính, đầy đủ hơn cả, tuy nhiên có nhiều chỗ cần phải xét lại, nhất là về địa danh, niên đại.
Đông Hồ không dịch nguyên văn, chỉ dùng để viết lại, chưa ra chương tiết, sau khi đã “tham khảo thêm ở các sách Nam sử và ngoại truyện” tăng bổ những chỗ thiếu sót, cải chính những chỗ sai lầm. Năm 1948 ông sửa chữa, cho in lại trong cuốn Danh Nhân Nước Nhà của Đào Văn Hội. Sau khi lên Sài Gòn rồi, ông kiếm thêm được nhiều tài liệu khác trong các bộ sử Việt, như bộ Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên, cuốn Un Chinois des mers du Sud, le fondateur de Hà Tiên, Journal asiatique 1952 của Gaspardone, bản dịch và chú thích rất kỹ lưỡng cuốn Mạc Thị Gia Phả đã kể trên, của Trần Kinh Hòa, Văn Hóa Á Châu số 7 tháng 10 năm 1958, ông thấy cần sửa lại lần nữa tập Hà Tiên Mạc Thị Sử nhưng chưa kịp làm thì đã qui tiên. Ông thực là kiên nhẫn và thận trọng. Mặc dầu chưa sửa lại, tập đó hiện nay vẫn còn tạm dùng được.
Năm 1927, nhân dịp đi chấm thi ở Phú Quốc, ông được thăm gần hết cảnh đẹp và di tích trên đảo, về viết một thiên du ký rất đầy đủ, đăng trong Nam Phong số 124 (1927), nhan đề là Thăm Đảo Phú Quốc. Ông nhận xét, ghi chép tỉ mỉ, mà văn du ký của ông tươi đẹp, nên ngày nay đọc lại còn thấy thú.
Trong khoảng mấy năm sau, ông cho đăng trên Nam Phong nhiều thơ văn tả cảnh Hà Tiên như Bơi Thuyền chơi Đông Hồ, Đông Hồ cảnh sớm, Lên chơi núi Đại Tô Châu, Chơi Tô Châu, Cảnh trăng trên Đông Hồ... đáng để ý hơn cả là bài ký Chơi Châu Nham (Nam Phong số 154, năm 1930). Núi Châu Nham tức núi Đá Dựng cách chợ Hà Tiên sáu bảy cây số, cảnh hoang tịch mà đẹp hơn Thạch động. Và bài Phú Đông Hồ rất nổi tiếng. Non hai chục năm sau, hai ông bà cho ra chung một tập nhan đề là Hà Tiên Thập Cảnh và Đường vào Hà Tiên (Bốn Phương 1969). Tập này mỏng, nhỏ chỉ bằng bàn tay, giúp độc giả biết rõ về mười thắng cảnh Hà Tiên. Về mỗi cảnh, Đông Hồ dẫn một bài thơ Nôm, thất ngôn đường luật của Mạc Thiên Tích rồi giảng giải, tả cảnh, kể tích xưa cho ta hiểu rõ thêm. Cuối tập có mươi trang tả bốn năm con đường đưa vào Hà Tiên. Tác phẩm có ích cho khách du lịch.
Trong mấy chục năm đó, Đông Hồ vẫn tiếp tục khảo cứu thêm về Hà Tiên, thu thập tất cả những sách báo Việt, Hán, Pháp viết về Hà Tiên được trên mười tập... Tôi đã thấy ông ghi chú kỹ lưỡng từng tài liệu một, gom lại thành một bó lớn, một phần được dùng trong cuốn Văn Học Hà Tiên (Quỳnh Lâm – 1970). Cuốn này dày trên ba trăm trang khổ lớn, có nhiều hình ảnh, gồm những bài giảng của ông ở Đại học Văn Khoa Saigon. Ta nhận thấy công trình khảo cứu công phu, cách trình bày sáng sủa – giọng ông ở đây là giọng một giáo sư kiêm một nghệ sĩ. Ông rất thận trọng trong phần chú giải, nhất là trong những bài dịch thơ chữ Hán của Mạc Thiên Tích. Ông dịch sát mà giữ đúng cả thể lẫn vần trong nguyên tác, như bài Lộc Trĩ Thôn Cư nguyên tác là thất ngôn Đường luật, dùng các vần tinh, thinh, thanh, linh, đình thì ông cũng dịch ra thất ngôn Đường luật và dùng những vần mình, tranh, xanh, thanh, thinh.
Ông đã trình bày cặn kẽ chẳng riêng mười bài thơ Nôm, mà trọn tập ngâm khúc Nôm và mười bài thơ Hán của Mạc Thiên Tích về mười cảnh Hà Tiên. Về phần giới thiệu nhóm Chiêu Anh các, tiểu sử Mạc Thiên Tích, tài liệu cũng dồi dào, sau này khó có ai viết hơn ông được.
Đó là công Đông Hồ đối với Hà Tiên. Tích:
“Nhà cửa không khác Trung Quốc, từ nhà Vương (Mạc Thiên Tích) tất cả đều làm bằng gạch lợp nhói. Trong cách ăn mặc, họ bắt chước triều đại trước (nhà Minh). Vương bới tóc lưới, đội khăn hay mũ bằng nhiều, mình mặc áo thêu rồng, đai bằng sưng, mang hia. Ngày thường họ dùng đủ màu (...) Gặp thì họ chắp tay chào nhau”.
Tới gần đây, nghĩa là sau hơn hai thế kỷ, Hà Tiên còn giữ được ít nhiều màu sắc Trung Hòa từ phong tục, cách ăn ở tới ngôn ngữ, giao tế; còn miền Đông, từ Vĩnh Long trở ra Biên Hòa, Bà Rịa, chịu ảnh hưởng của những lớp nam tiến cuồn cuộn từ miền Trung vô; hạng người tiền đạo này tháo vát, phóng khoáng, tự tạo một nếp sống mới, có tinh thần bình dân, tự nhiên, nên ưa thích văn học bình dân hơn.
Tổ tiên của Đông Hồ gốc gác ở Phúc Kiến (Hoa Nam) có lẽ cùng qua Việt Nam với họ Mạc (Mạc Cửu có dùng một quan ký lục họ Lâm), đời đời theo Nho học, và cụ Hữu Lân, bá phụ của Đông Hồ là một nhà nho nổi tiếng văn hay chữ tốt. Thiếu thời, Đông Hồ được cụ dạy dỗ, đào tạo trong nền cổ học, gần như không ra khỏi Hà Tiên, không được đọc gì khác ngoài văn Hán và Nôm. Vì vậy tâm hồn ông gần với tâm hồn các nhà nho Bắc, Trung hơn các người Nam đồng thời với ông ở miền đông, chẳng hạn Hồ Biểu Chánh. Vì vậy mà hai mươi hai tuổi ông làm được bài phú Đông Hồ, khiến các nhà Nho phải phục. Vì vậy mà ông được nhận ngay và phái Nam Phong và suốt đời có nếp sống của nhà Nho, có thiện cảm với các nhà văn Bắc, Trung. Lần lần tinh thần ông hơi thay đổi, mới hơn nhiều nhà Nho trong nhóm Nam Phong, mà ráng hòa với trào lưu mới, nhưng cốt cách, bút pháp thì hồi ba mươi tuổi đã định rồi. Nhờ vậy, ông là nhà văn, nhà thơ đầu tiên trong Nam bắc cầu Nam Bắc, mở đường cho sự “thống nhất văn hóa dân tộc” như ông nói.
Đó là mục đích thứ nhất trong đời sống. Mục đích thứ nhì là nối lại sự nghiệp văn học của Mạc Thiên Tích đã bị gián đoạn trong một thế kỷ rưỡi. Một thanh niên sanh trong một gia đình có truyền thống văn học, tại một nơi danh thắng đã có thời nổi tiếng là “Văn hiến quốc”, từ hồi nhỏ, mắt đã được thấy làn nước Đông Hồ, ngọn núi Tô Châu, chân được dạo những chốn còn lưu lại di tích tiên nhân như Kim Dự, Bình San, Tiêu Tự, Giang Thành, tai được nghe những chuyện hồi thịnh thời Mạc Thiên Tích cùng những nhà văn Hán, Nôm của nhóm Chiêu Anh các, một thanh niên được gặp những hoàn cảnh may mắn đó mà lại anh tuấn, mới mười bốn mười lăm tuổi đã được khen là thơ có khẩu khí, rồi hai mươi tuổi danh vang ra tới đất Bắc, nhờ một bài có giọng lãng mạn như từ Trẩm Á (bài Linh Phượng) và một bài cổ kính mà hoa mỹ như văn Lục Triều (bài phú Đông Hồ); một thanh niên như vậy nhất định là yêu quê hương tha thiết, tự hào về nó nữa và hoài bão cái chí làm vẻ vang cho quê hương, nếu không nối nghiệp được tiền nhân thì ít nhất cũng làm cho người trong nước nhớ rằng “nơi hải ngoại xa xôi này không phải không có văn chương” (lời Đông Hồ).
Ông nhũn nhặn, kín đáo, không thổ lộ tâm sự, chí hướng với bạn, nhưng trong một lúc xúc động mạnh, viết thư cho tôi đã thú rằng “làm con, tôi đã để cho bác tôi nỗi khổ tâm vì tôi nghĩ rằng tôi “quá” thông minh”. Như vậy ông đã tự tin lắm, nhận được giá trị của mình ngay từ thiếu thời và tôi đoán trúng ông có lúc muốn lập nên một sự nghiệp về văn học như Mạc Thiên Tích, điều đó chắc không xa sự thực.
Thời đại ông không phải là thời Mạc Thiên Tích, Hà Tiên không còn là một tiểu quốc mà chỉ là một thị trấn nhỏ, mà địa vị một giáo viên sơ học dưới thời Pháp thuộc lại càng không thể so sánh được với địa vị một vị hầu dưới triều chúa Nguyễn(Thiên Tích được phong là Tông Đức hầu); cho nên sự nghiệp của ông khác hẳn Thiên Tích. Không thể lập được một Chiêu Anh các nữa thì ông ráng dựng Trí Đức học xá, cũng là một nghĩa thục như nghĩa thục của Chiêu Anh các, chưa có đủ tư cách kết nạp các anh tài trong nước để thành lập một tao đàn thì ông đào tạo lấy một số môn sinh cho giỏi Việt ngữ, hiểu được thơ văn, nhất là thơ văn cổ, rồi ông lại khuếch trương thêm, mở lớp hàm thụ đầu tiên dạy Việt văn, và ảnh hưởng của ông lan khắp lục tỉnh, nhiều người yêu văn chương ở Hà Tiên, Biên Hòa, Tây Ninh...nghe tiếng gọi “hồn Đại Việt” của ông mà cùng với ông trau dồi “giọng Hàn Thuyên”.
Không có Đại Thành Điện, Khuê Văn Lâu... như Tông Đức Hầu, thì ông có Vạn Quyển thư lâu, Vương Giả hương đình, Quỳnh Lâm thư thất... tuy chẳng lộng lẫy, nhưng sách quí, tranh quí và nét bút của cố nhân và của chính ông thì chất, treo đầy tường; mà hương lan, hương huệ thường tỏa ra ngào ngạt mỗi khi có bạn văn tới; ai cũng phải nhận rằng về phương diện đó ông đúng là bậc “vương giả” trong giới tao nhân Việt Nam. Cho nên năm 1961, khi viên thư ký Hàn Lâm Viện Ấn Độ, K.F. Kripalani, qua Saigon để tìm những kỷ niệm về thi hào Tagore thì nhà Văn Hóa bối rối, không biết tiếp vị khách quí ấy ở đâu cho trang nhã, có vẻ “văn hóa” một chút, phải xin mượn Yễm Yễm thư trang vậy.
Những hoạt động cùng phong cách đó của họ Lâm có thể chỉ là ngẫu nhiên ám hợp với những hoạt động cùng phong cách họ Mạc, nghĩa là xuất phát từ phần tiềm thức, nhưng dù vậy chăng nữa, tôi nghĩ cũng cần ghi lại cho văn học sử.
Tôi không rõ môn sinh của Đông Hồ tại Trí Đức học xá và trong các lớp hàm thụ, trước sau được bao nhiêu người; một số có khiếu văn chương, nhưng rồi chẳng viết lách gì cả và ruốt cuộc chỉ còn một mình nữ sĩ Mộng Tuyết, sau thành bạn văn và bạn trăm năm của ông, là không phụ công lao của ông. Bà viết ít hơn ông, nhưng văn thơ đều có giọng như ông, cũng trang trọng, du dương, tô chuốt, có phần đa cảm hơn và nhiều khi miêu tả cảnh vật, như một khóm cây, một con ong, một cành hoa... nhận xét có phần sắc bén hơn ông. Ai đọc văn thơ của bà cũng nhận thấy ngay rằng bà chịu ảnh hưởng của ông rất đậm, mà văn thơ của hai ông bà có một địa vị riêng, phái Hà Tiên.
Phái này chỉ còn vài ba nhà nữa ( như Trúc Hà, có họ hàng với Đông Hồ, cũng quê ở Hà Tiên, hơi có tiếng tăm, mất trước 1945, và ông Trọng Toàn), nhưng sự nghiệp không kém gì phái Chiêu Anh các.
Không kể rất nhiều bài dài ngắn đăng rải rác trên các tạp chí, hiện nay chưa in thành sách, Đông Hồ đã lưu lại cho chúng ta mười lăm tác phẩm, trong số đó có sáu bảy tập thơ.
Nữ sĩ Mộng Tuyết cũng đã đăng lác đác ít bài thơ, hồi ký, đã xuất bản một lịch sử tiểu thuyết: Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp, một tập tùy bút Dưới Mái Trăng Non và một tập văn cảo Hà Tiên Tạp Thuyết. Bà vẫn còn sáng tác và chắc còn cống hiến cho quốc dân được vài tập nữa.
Đã có người nhận định về phần mà người ta gọi là “văn chương thuần túy”, tức thơ, tùy bút... trong sự nghiệp của Đông Hồ; ở đây tôi chỉ xin giới thiệu những trứ tác của hai ông bà liên quan. Sự đóng góp của Mộng Tuyết cũng rất đặc biệt. Bà chỉ mới có một tập truyện Nàng Ái Cơ Trong Chậu Up (Bốn phương – 1961) và vài bài ngắn, chép hồi ký về Hà Tiên trong tập Dưới Mái Trăng Non (Mặc Lâm – 1969) nhưng nội cuốn Ái Cơ cũng đáng được chú ý rồi.
Mộng Tuyết bổ túc công việc của Đông Hồ. Đông Hồ cho ta biết lịch sử của Hà Tiên, đời sống và sự nghiệp các nhân vật Hà Tiên, Mộng Tuyết cho ta thở cái không khí cổ của Hà Tiên, sống với các nhân vật Hà Tiên.
Truyện có thực còn lưu lại di tích, tức chùa Phù Dung ở Hà Tiên mà Đại Nam Nhất Thống Chí chắp đúng, là chùa Phù Cừ, người sau không hiểu nghĩa đổi là Phù Dung. Nhân vật chính, Dì Tự, một ái cơ của Mạc Thiến Tích, đã đẹp lại hay chữ, khiến bà chính thất họ Nguyễn ghen tuông mà lập mưu hãm hại, nhốt vào một cái chậu úp cho ngộp mà chết, may được Thiên Tích ngẫu nhiên cứu sống, rồi chán chường thế sự bà xin phép chồng đi tu. Thiên Tích cất cho bà ngôi chùa Phù Cừ đó để bà lánh đời.
Truyện chỉ có như vậy, tác giả đã tưởng tượng thêm để viết thành một lịch sử tiểu thuyết dài non hai trăm trang làm sống lại một thịnh thời ở Hà Tiên với những hội hoa đăng, hội thơ, cảnh duyệt binh, cảnh Tết Đoan Ngọ... Tuy là tưởng tượng nhưng vẫn dựa vào sử, theo sát tài liệu lịch sử, giữ đúng niên đại trong sử. Tác giả đã khảo cứu công phu, dựng truyện chặt chẽ mà văn thì đẽo gọt, đối với một tiểu thuyết, có lẽ đẽo gọt quá theo quan niệm hiện thời. Từ đầu thế kỷ đến nay, ít cuốn trong loại đó có thể so sánh được: tiểu thuyết của Lan Khai chỉ là chuyện tình mượn tên “lịch sử”, còn tiểu thuyết của Nguyễn Triệu Luật ngoài cuốn Bốn con yêu và ba ông đồ chỉ là lịch sử ký sự tiểu thuyết, thì chỉ có Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp. Tiếc thay, tác phẩm được ít người hoan nghênh có lẽ chỉ vì xuất hiện không đúng lúc.
Tuy là của Mộng Tuyết nhưng công của Đông Hồ cũng đáng kể, không phải trong việc đề tựa và trình bày (có mấy bức tranh của ông) mà cả trong việc thu thập tài liệu, xây dựng cốt truyện nữa.
Vậy ông đã trở ơn quê hương một cách xứng đáng. Hiện nay chúng ta biết được chút gì về Hà Tiên hầu hết là nhờ ông cả. Thật cũng lạ! Hai họ Mạc và họ Lâm đều gốc gác ở Hoa Nam: Mạc ở Quang Đông, Lâm ở Phúc Kiến, cùng qua Nam Việt một thời, cùng yêu ngay quê hương thứ hai của mình, rồi coi quê hương đó là quê hương thứ nhất, cùng tận tâm phục vụ cho tiếng mẹ đẻ. Họ Mạc đến đời thứ bảy chỉ còn hai người con gái, còn họ Lâm đến đời thứ tám cũng chỉ có hai người con gái (Đông Hồ là người con trai duy nhất đời thứ bảy, sanh hai con trai, đều không nuôi được).
Hiện nay ngoài nữ sĩ Mộng Tuyết ra, còn có nhà văn, nhà thơ nào gốc gác Hà Tiên nữa không? Và bao giờ Hà Tiên mới lại có được một họ làm rạng danh Hà Tiên như họ Lâm? Nếu có thì thời đại đã thay đổi, Hà Tiên sẽ không con là nơi hẻo lánh nữa, văn học Việt Nam đã thống nhất thì sự nghiệp của người sau tất khác của người trước. Và chúng ta có thể nói rằng lịch sử văn học Hà Tiên sẽ vĩnh viễn gắn liền với hai họ Mạc, Lâm. Họ Mạc làm cho Hà Tiên thành một “văn hiến quốc”, họ Mạc mở đường, họ Lâm nối nghiệp; người sau sẽ chuyển qua một hướng khác chứ không tiếp tục nữa.

1. Quỳnh Lâm xuất bản – 1970.
2. Chính tên là Tông, tự là Thiên Tứ. Chữ Tứ này bộ bối, có nghĩa là cho; sau chúa Nguyễn Phúc Chu (1725-1738) tứ danh cho, mới đổi bộ bối ra bộ kim, thành chữ tích cũng có nghĩa là cho.
3. Theo Đông Hồ (Văn học Hà Tiên – tr. 142), “căn cứ trên mộ bia dựng ở núi Bình San (Hà Tiên), hiện hãy còn, khi Thiên Tích lập thạch cho mẹ, đề thái phu nhân là họ Nguyễn, thì chúng ta có thể quyết được mẹ Thiên Tích là người Việt. Bởi người Tàu ít có người họ Nguyễn”.
Theo Gia Đinh Thành Thông Chí (quyển II), ông Hãn Nguyên dẫn trong bài “Hà Tiên, chìa khóa nam tiến của dân tộc Việt xuống đồng bằng sông Cửu Long”, tập san Sử Địa số 19-20, năm 1970 tr. 165 thì mẹ Mạc Thiên Tích là người Việt, tên Bùi Thị Lẫm, gốc ở Đồng Môn, thuộc Biên Hòa. Cũng trong bài ấy, ông Hãn Nguyên còn dẫn lời của Pierre Poivré, cũng nhận Thiên Tích là người lai. Chúng ta có thể tin lời trên mộ bia hơn lời trong Thông Chí. Dù theo thuyết nào thì mẹ Thiên Tích cũng là người Việt, cho nên Thiên Tích mới giỏi thơ Nôm được.
Lịch sử Hà Tiên còn nhiều nghi vấn: như năm sinh của Mạc Cửu và Mạc Thiên Tích, mỗi thuyết một khác.
4. Có 320 bài thì ta có thể đoán rằng Chiêu Anh các gồm 32 thi sĩ thôi (mỗi nhà 1 làm 10 bài) kể cả Thiên Tích. Con số 36 cũng như con số 12, 72... không đáng tin.
5. Hãn Nguyên – Bài đã dẫn. Tập san Sử Địa 19-20 tr. 270.
6. Theo gaspardone – Hãn Nguyên trong bài kể trên. Hàn Lâm viện đó là Chiêu Anh các.