Menu



Đài Tưởng Niệm

Thuyền Nhân

Việt Nam

Tiếp Theo...

* NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM NĂM THỨ 5


* LỄ TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TỔ CHỨC TRANG NGHIÊM TẠI NGHĨA TRANG WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* 30 THÁNG TƯ, TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* BI SỬ THUYỀN NHÂN (Nguyễn Quốc Cường)


* BIỂN ĐÔNG LỤC BÌNH TRÔI


* CÁI GIÁ CỦA TỰ DO


* CÁNH BÈO BIỂN CẢ (Văn Qui)


* CÂU CHUYỆN CẢM ĐỘNG VỀ CON TÀU MANG SỐ MT065


* CẦU SIÊU BẠT ĐỘ TẠI ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM WESTMINSTER


* CHUYỆN KỂ HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG (Nhiều Tác Giả)


* CHỨNG TÍCH ĐỂ ĐỜI: ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Vi Anh)


* CHUYẾN VƯỢT BIÊN ĐẪM MÁU (Mai Phúc)


* CHUYẾN VƯỢT BIỂN HÃI HÙNG


* CÒN NHỚ HAY QUÊN (Nguyễn Tam Giang)


* DẠ TIỆC VĂN NGHỆ "LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG" THÀNH CÔNG NGOÀI DỰ KIẾN CỦA BAN TỔ CHỨC


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN (Việt Hải)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN TẠI QUẬN CAM (Vi Anh)


* ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM: BIỂU TƯỢNG THIÊNG LIÊNG CỦA NIỀM KHÁT VỌNG TỰ DO VÀ NHÂN QUYỀN


* ĐÊM DÀI VÔ TẬN (Lê Thị Bạch Loan)


* ĐI VỀ ĐÂU (Hoàng Thị Kim Chi)


* GALANG: BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM BỊ PHÁ BỎ


* GALANG MỘT THỜI - MỘT ĐỜI (Nguyễn Mạnh Trinh)


* GIÁNG NGỌC PHỎNG VẤN NHÀ THƠ THÁI TÚ HẠP VÀ NỮ SĨ ÁI CẦM VỀ LỄ KHÁNH THÀNH ĐTNTNVN


* GIỌT NƯỚC MẮT CHO NGƯỜI TÌM TỰ DO (Lê Đinh Hùng)


* HẢI ĐẢO BUỒN LÂU BI ĐÁT


*"HÀNH TRÌNH BIỂN ĐÔNG: TỰ DO, MỘT NHU CẦU THIẾT YẾU, ĐÁNG ĐỂ TA ĐI TÌM"


*HÀNH TRÌNH GIAN NAN TÌM TỰ DO


* HÀNH TRÌNH TÌM CON NƠI BIỂN ĐÔNG


* HÌNH ẢNH MỚI NHẤT CHUẨN BỊ KHÁNH THÀNH VÀO THÁNG 04-2009


* HÒN ĐẢO BỊ LÃNG QUÊN (Meng Yew Choong)


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ VINH DANH ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* HỘI ĐỒNG THÀNH PHỐ WESTMINSTER THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT “NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM”


* KHÁNH THÀNH ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI NAM CALI


* KHẮC TÊN TRÊN BIA TƯỞNG NIỆM (Việt Hải)


* LÀN SÓNG THUYỀN NHÂN MỚI


* LỄ ĐỘNG THỔ KHỞI CÔNG XÂY DỰNG ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM


* LỄ KHÁNH THÀNH TRỌNG THỂ ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VIỆT NAM TẠI QUẬN CAM


* LÒNG NHÂN ÁI (Tâm Hồng)


* LỜI NGUYỆN GIỮA BIỂN ĐÔNG (Thơ Thái Tú Hạp)


* MEMORIAL TO BOAT PEOPLE WHO DIED TO BE DEDICATED SATURDAY


* MỘT CÁI GIÁ CỦA TỰ DO (Trần Văn Hương)


* MƠ ƯỚC "MỘT NGÀY TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN" ĐÃ TRỞ THÀNH SỰ THẬT


* "NGÀY THUYỀN NHÂN VIỆT NAM" TỔ CHỨC TRỌNG THỂ TẠI WESTMINSTER


* NGƯỜI PHỤ NỮ SỐNG SÓT SAU CHUYẾN VƯỢT BIỂN KINH HOÀNG


* NHỮNG CHUYỆN HÃI HÙNG CỦA THUYỀN NHÂN (Biệt Hải)


* NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT ĐỀU CÓ THẬT (Ngô Dân Dụng)


* NHỮNG THÁNG NGÀY YÊU DẤU NƠI HOANG ĐẢO (Tuấn Huy)


* NỖI KHỔ CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Thy Vũ Thảo Uyên)


* NƯỚC MẮT CỦA MỘT THUYỀN NHÂN (Nguyễn Mỹ Linh)


* SAIGON TIMES PHỎNG VẤN MỤC SƯ HÀ JIMMY CILLPAM 4 NĂM CÓ MẶT TRÊN TÀU AKUNA CỨU HƠN 5000 NGƯỜI VIỆT NAM VƯỢT BIỂN TÌM TỰ DO TRÊN BIỂN ĐÔNG


* TÀU SẮT BẾN TRE (Tú Minh)


* THẢM KỊCH BIỂN ĐÔNG (Vũ Duy Thái)


* THẢM SÁT TRÊN ĐẢO TRƯỜNG SA


* THỊ XÃ WESTMINSTER VINH DANH TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN


* THÔNG BÁO CỦA ỦY BAN THỰC HIỆN ĐÀI TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN VN


* THƠ LÀM KHI ĐỌC TIN THUYỀN NHÂN (Viên Linh)


* THUYỀN NHÂN: ẤN TÍCH LỊCH SỬ


* THUYỀN NHÂN VÀ BIỂN ĐỘNG


* THUYỀN NHÂN VÀ MỘT VÀI HÌNH ẢNH CỨU NGƯỜI VƯỢT BIỂN


* THUYỀN NHÂN VIỆT NAM VƯỢT BIÊN, TỬ NẠN, ĐẾN BỜ TỰ DO ĐÃ GIÚP NHÂN LOẠI NHÌN RÕ ĐƯỢC CHÂN TƯỚNG CỦA CỘNG SẢN (Lý Đại Nguyên)


* TRÔI GIẠT VỀ ĐÂU (Nguyễn Hoàng Hôn)


* TRỞ VỀ ĐẢO XƯA... (Nguyễn Công Chính)


* TỪ TẤM BIA TƯỞNG NIỆM THUYỀN NHÂN Ở GALANG NHÌN RA CON ĐƯỜNG HÒA GIẢI


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN VIỆT NAM ĐÃ CHÍNH THỨC ĐƯA VÀO WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỢNG ĐÀI THUYỀN NHÂN ĐÃ ĐƯỢC ĐẶT VÀO VỊ TRÍ AN VỊ TRONG KHUÔN VIÊN WESTMINSTER MEMORIAL PARK


* TƯỞNG NIỆM QUỐC HẬN 30-4-2012

* VĂN TẾ THUYỀN BỘ NHÂN ĐÃ BỎ MÌNH TRÊN ĐƯỜNG TÌM TỰ DO


* VƯỢT BIỂN (Thanh Thanh)


* VƯỢT BIỂN MỘT MÌNH (Nguyễn Trần Diệu Hương)


* XIN VỀ ĐÂY CHỨNG GIÁM, AN GIẤC NGÀN THU


* XÓA DẤU VẾT TỘI ÁC (Phạm Phú Minh)


Saigon Times USA

LÀNG MỘC KIM BỒNG

 

PHẠM HỮU ĐĂNG ĐẠT

Làng Kim Bồng xưa gồm Kim Bồng Đông và Kim Bồng Tây. Trong đó, Kim Bồng Đông có nhiều gia đình chuyên sinh sống bằng nghề mộc. Còn Kim Bồng Tây lại thiên về buôn bán. Sau nhiều lần thay đổi, hiện nay làng Kim Bồng, tên thường gọi của làng Kim Bồng Đông, nay thuộc xã Cẩm Kim, thị xã Hội An. Xung quanh ngôi làng nhỏ bé, như một ốc đảo với bốn bề sông nước này có nhiều câu chuyện kể khá lý thú và hấp dẫn.
Chuyện kể rằng xưa làng Kim Bồng có ngôi đình rất to. Bề dài của đình khoảng bốn mươi thước Tây. Còn bề ngang độ mười lăm thước Tây. Đình gồm năm gian hai chái, được xây dựng từ thời xa xưa, cách nay ít ra cũng đôi ba trăm năm. Thật ra, đình làng thì nơi nào không có. Chỉ khác một điều là có đình to, đình nhỏ. Rồi lối kiến trúc riêng của từng ngôi đình. Nhưng, cái đặc biệt của đình làng Kim Bồng là đình chia ra làm hai khu là khu Đông và khu Tây. Cả hai khu đều làm bằng những nguyên vật liệu y như nhau. Cả những chiếc cột cũng chẳng khác nhau. Thế mà, bấy giờ nếu khách lạ ghé vào, sẽ rất ngạc nhiên khi thấy ở khu Tây người ta sơn phết, chạm trổ... đẹp bao nhiêu thì ở khu Đông, họ lại để trơn. Theo truyền khẩu, sở dĩ có sự khác biệt ấy là do dân làng Kim Bồng Tây nhiều người đi lãnh thầu, hành nghề buôn bán. Phi thương bất phú. Cho nên, họ tương đối giàu có, một số lại có của ăn của để, đủ sức đóng góp thêm chút đỉnh tiền bạc để thuê thợ sơn phết, chạm trổ... khu Tây cho đẹp. Kết cuộc tất yếu là ngôi đình mang tiếng là đình chung nhưng phân ra làm hai khu rất khác biệt nhau. Tuy nhiên, vào ngày diễn ra lễ cúng Kỳ Yên, diễn ra vào 16 tháng giêng âm lịch hàng năm, cả hai làng Kim Bồng Đông và Kim Bồng Tây đều làm lễ chung, ăn chung ngay tại đình làng. Thế mới lạ!
Cũng theo các bô lão, ngoài ngôi đình bề thế, xung quanh đình còn có một quần thể kiến trúc như có lăng Nghĩa Từ, lăng Bà xóm Hà Trung, miếu thờ Thiện Nghệ Phổ, Nhà Hội Đông, Nhà Hội Tây và khu Xã Tắc. Trong đó, đáng chú ý nhất là khu Xã Tắc. Khu này có tường xây bao quanh. Giữa khu có bàn thờ, nồi hương nhưng phía trên không che lợp gì cả. Về sự ra đời của khu Xã Tắc, lại có câu chuyện truyền khẩu rằng thời trước những gia đình làm nông trong làng rủ nhau quyên góp kẻ ít người nhiều để xây dựng trên khu đất diện tích rộng khoảng hai sào có trồng hàng cây mù-u, hàng cây phượng vĩ rất đẹp. Lại có cả một cây cổ thụ cao to, rợp bóng mát, nhất là về mùa hè. Đây là nơi mà vào đầu tháng năm âm lịch hàng năm diễn ra lễ cúng Thần nông, cầu mong mưa thuận gió hòa để những gia đình làm nông nghiệp có lúa gạo, bắp khoai... sinh sống. Trước khi tổ chức lễ cúng Thần nông, những đứa trẻ chăn trâu trong làng, thường được gọi là trẻ mục đồng, đến từng gia đình làm nghề nông quyên góp tiền theo lòng hảo tâm của gia chủ, không chê ít hay nhiều. Quyên góp được bao nhiêu đều mua đồ cúng. Sau đó, những đứa trẻ chăn trâu trong làng được hưởng tất cả đồ cúng ấy. Người lớn hoàn toàn không can dự vào. Cho nên, mới có tên gọi lễ cúng đầu tháng năm âm lịch là lễ cúng mục đồng.
Đáng tiếc là ngôi đình bề thế, năm gian hai chái nổi tiếng của làng Kim Bồng cùng những quần thể kiến trúc bao quanh đã bị tàn phá trong kháng chiến chống Pháp. Cho nên, những câu chuyện kể, bóng dáng của ngôi đình, của Nhà Hội Đông, Nhà Hội Tây, của Khu Xã Tắc... chỉ còn đọng lại trong ký ức, trong tâm tưởng của lớp người cao tuổi mà thôi.
Lại có chuyện truyền khẩu rằng ở đất Kim Bồng có bốn tộc họ lớn là Huỳnh, Nguyễn, Phan, Trương. Ngoài ra, còn có tộc Đỗ. Tộc này nguyên xưa chuyên sống dưới sông, lấy ghe làm nhà. Khi đến Kim Bồng, họ thấy dân làng tộc nào tộc nấy đều có nhà thờ tộc hẳn hoi. Hàng năm xuân thu nhị kỳ đều tế lễ, con cháu tụ tập đông đủ, họ mới làm đơn xin các vị chức sắc trong làng cấp một mảnh đất dựng nhà thờ. Xóm nghề chài dần dần hình thành. Xóm chỉ có vài chục gia đình sinh sống bằng nghề đánh cá trên sông. Nhưng, điều đặc biệt là hồi nửa đầu thế kỷ XX, ở đây đã ra đời Hội đua ghe, tục gọi là ghe ông Cúc. Hội đua ghe Kim Bồng thời ấy rất mạnh, đua có tiếng, từng đoạt nhiều giải thưởng trong các kỳ thi đua ghe ở tỉnh Quảng Nam. Tuy nhiên, liên tiếp trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, nhiều gia đình trong xóm nghề chài chuyển qua sinh sống ở Thạch Thành nay thuộc phường Cẩm Phô, thị xã Hội An. Cho nên, hiện nay, chỉ còn rải rác vài ba gia đình ở lại mà thôi.
Đất Kim Bồng tuy không thể gọi là đất trăm nghề nhưng cũng có thể gọi là đất đa nghề. Thật vậy, ngoài nông nghiệp, người dân làng còn làm nhiều nghề khác nhau như nghề đánh bắt cá trên sông biển, nghề buôn bán, nghề đắp vẻ nhà thờ, nghề đóng ghe thuyền, đặc biệt là ghe bầu, một loại ghe thời xưa thường dùng để chuyên chở trên các tuyến đường sông, đường biển. Nhưng, quan trọng nhất, có tiếng tăm nhất là nghề mộc Kim Bồng. Là đất đa nghề nên trong làng mới xuất hiện ngôi miếu gọi là miếu thờ Thiện Nghệ Phổ, tức thờ những người đã có công khai sinh ra các nghề. Đầu năm mới, trước khi chính thức đi làm, những người thợ, bất kể là thợ mộc, thợ hồ, thợ đóng ghe... đều đến đây làm lễ cúng, với mong muốn suốt năm ấy được các ông tổ nghề phù trợ, công việc làm ăn thuận buồm xuôi gió, vừa có tiền có bạc vừa tai qua nạn khỏi. Lễ cúng thường diễn ra vào ngày mồng sáu tháng giêng âm lịch, ngay sau những ngày tết Nguyên Đán cổ truyền.
Về nghề đắp vẻ nhà thờ, hồi Pháp thuộc, nổi tiếng nhất là ông Xã Đồng, ông Thủ Bụi rồi đến ông Thủ Giáo. Riêng ông Thủ Giáo tuy là người chính gốc Kim Bồng nhưng lại ở đất Điện Phương thuộc huyện Điện Bàn. Có thời, ông làm cho Pháp và được thưởng cho chức Nghè nên thường gọi là ông Nghè Phụng. Riêng nghề đóng ghe bầu, loại ghe bầu nổi tiếng của Hội An, thường được dùng để chở hàng hóa đi Nam, lớp trước có ông Hương Chạy, ông Thủ Thê. Lớp sau có ông Có, con ông Thủ Thê, kế đến là ông Trùm Hi. Hiện nay, đóng tàu thuyền các loại có ông Nguyễn Đẫy, ông Huỳnh Lý. Nhưng, như đã nói, làng Kim Bồng thành danh nhờ nghề mộc, chủ yếu là mộc dân dụng. Bởi thế, mới có câu hát rằng:
"Dang tay hốt nhúm dăm bào
Hỏi thăm chú thợ lúc nào hồi công
Không mai thì mốt anh hồi công
Đất Hàn em ở, chốn Kim Bồng anh lưu chân"
Được biết, thời xa xưa, những người hành nghề mộc nổi tiếng Kim Bồng từng góp phần xây dựng nhà cửa, chùa chiền với những đường nét chạm trổ tinh vi, đẹp mắt ở phố cổ Hội An. Kế đến, họ cũng góp phần không nhỏ xây dựng cố đô Huế. Đặc biệt, hồi xây lăng Khải Định, có hai người được thưởng chức mục tượng. Đó là ông mục Đào và mục Im. Cả hai ông đều là người tộc Đỗ ở Kim Bồng. Nói đâu xa, ngay dưới thời Pháp thuộc, đã có vài chục thợ chính gốc Kim Bồng làm công cho hãng Robert là một trong những hãng kinh doanh về mộc, chế biến chè tại Tourane, tức Đà Nẵng hiện nay. Cho nên, mới có chuyện ông Huỳnh Kim Đài bấy giờ được phong cửu phẩm tùng đội trưởng.
Hiện nay, ở thôn 2, vẫn còn vài chục hộ hành nghề mộc truyền thống. Trong đó, có 5 gia đình chuyên sinh sống bằng nghề này là gia đình các ông Trần Lượng, Trần Đình Nam, Lữ Thương, Huỳnh Kim Cư, Huỳnh Ri, Phan Công. Riêng hai ông Huỳnh Ri và Huỳnh Kim Cư đã mở cơ sở dạy nghề, truyền nghề cho lớp con cháu sau này. Nổi tiếng nhất, có tay nghề nhất là ông Huỳnh Ri, sinh năm 1940 và là cháu ruột của ông Huỳnh Kim Đài, người được phong chức cửu phẩm tùng đội trưởng xưa kia. Cha ông, ông Huỳnh Kim Mẫn, còn gọi là ông Hương Nam, cũng là người làm công cho hãng Robert thời Pháp thuộc. Ngay từ năm 1985, ông đã từng được Nhà nước phong tặng danh hiệu nghệ nhân. Ông đã phục chế phần mộc điêu khắc, trang trí ở nhiều ngôi chùa, nhiều nhà thờ, nhà cổ tại Hội An và các nơi khác như chùa Ngũ Bang, Phúc Kiến, Quảng Triệu, Chùa Ông, Phước Lâm, Vạn Đức, Viên Giác, Pháp Bảo... Ngoài ra, ông và một số người đã sản xuất nhiều mặt hàng mộc cao cấp, được chạm trổ tinh vi, đẹp mắt cung cấp cho khách hàng trong và ngoài nước đến thăm phố cổ Hội An. Rõ ràng, nghề mộc truyền thống Kim Bồng đã tìm được đầu ra và hứa hẹn một tương lai tốt lành.

(Chuyện làng nghề Đất Quảng - Phạm Hữu Đăng Đạt)